Eclesiastes 2

New Vietnamese Bible (VIETNVB) vs NVI

Sair da comparação
NVI Nova Versão Internacional
1 Tôi tự nhủ: “Tôi hãy nếm trải những điều chi mang lại niềm vui trên cõi đời này, xem thử những điều ấy có chi tốt không.” Nhưng tôi khám phá rằng loài người cũng không thỏa mãn với những điều vui thú ấy.
1 Pensei comigo mesmo: Vamos. Vou experimentar a alegria. Descubra as coisas boas da vida! Mas isso também se revelou inútil.
2 Tôi nhận thấy rằng đời sống hời hợt là điên rồ, còn đeo đuổi thú vui cũng chẳng thực hiện được gì.
2 Concluí que o rir é loucura, e a alegria de nada vale.
3 Tôi noi theo nguyên tắc của các bậc hiền triết; tôi thử dùng rượu cho đến mức say, để tìm hiểu xem đó có phải là điều tốt cho loài người làm theo trong những chuỗi ngày họ sống trên đất.
3 Decidi-me entregar ao vinho e à extravagância; mantendo, porém, a mente orientada pela sabedoria. Eu queria saber o que valesse a pena, debaixo do céu, nos poucos dias da vida humana.
4 Tôi thực hiện những công trình vĩ đại. Tôi xây dựng những lâu đài, vun trồng những vườn nho.
4 Lancei-me a grandes projetos: construí casas e plantei vinhas para mim.
5 Tôi lập cho mình những vườn hoa và vườn cây đủ mọi loại cây ăn trái.
5 Fiz jardins e pomares, e neles plantei todo tipo de árvore frutífera.
6 Tôi đào cho mình những hồ chứa nước để tưới rừng cây rậm rạp.
6 Construí também reservatórios para regar os meus bosques verdejantes.
7 Tôi mua nhiều tôi trai, tớ gái, cũng có nhiều tôi trai tớ gái sinh trưởng trong nhà. Tôi lại có nhiều bầy súc vật, bò và chiên dê, nhiều hơn tất cả những vì vua sống trước tôi tại Giê-ru-sa-lem.
7 Comprei escravos e escravas e tive escravos que nasceram em minha casa. Além disso tive também mais bois e ovelhas do que todos os que viveram antes de mim em Jerusalém.
8 Tôi thâu chứa bạc vàng; châu báu các vua chúa triều cống. Tôi chiêu mộ nhiều nam nữ ca sĩ; còn nói về lạc thú của đàn ông, tôi có biết bao nhiêu cung phi hầu hạ.
8 Ajuntei para mim prata e ouro, tesouros de reis e de províncias. Servi-me de cantores e cantoras, e também de um harém, as delícias do homem.
9 Vậy tôi trở nên sang trọng vượt trội hơn mọi vì vua sống trước tôi tại Giê-ru-sa-lem. Trong khi đó tôi vẫn tiếp tục noi theo nguyên tắc khôn ngoan của các bậc hiền triết.
9 Tornei-me mais famoso e poderoso do que todos os que viveram em Jerusalém antes de mim, conservando comigo a minha sabedoria.
10 Tôi chẳng bỏ qua bất cứ điều gì mắt tôi ưa thích.Tôi chẳng từ khước một thú vui nào.Thật tôi vui thỏa trong mọi công lao khó nhọc của mình,Và niềm vui thỏa này là phần thưởng cho mọi công lao của tôi.
10 Não me neguei nada que os meus olhos desejaram; não me recusei a dar prazer algum ao meu coração. Na verdade, eu me alegrei em todo o meu trabalho; essa foi a recompensa de todo o meu esforço.
11 Thế nhưng, khi ngẫm nghĩ lại mọi công trình tay mình thực hiện,Với bao công sức đổ dồn vào,Tôi nhận thấy mọi sự đều phù vân, hư ảo, không thể nào hiểu nổi, như không ai điều khiển nổi chiều gió thổi.Con người không tìm được lợi ích gì lâu bền trên cõi đời này.
11 Contudo, quando avaliei tudo o que as minhas mãos haviam feito e o trabalho que eu tanto me esforçara para realizar, percebi que tudo foi inútil, foi correr atrás do vento; não há qualquer proveito no que se faz debaixo do sol.
12 Tôi ngẫm nghĩ về sự khôn ngoan,Điên rồ, và ngu dại.Người kế vị ngôi vua có thể làm gì được?Thật ra, chỉ noi theo những gì các vua trước đã làm.
12 Então passei a refletir na sabedoria, na loucura e na insensatez. O que pode fazer o sucessor do rei a não ser repetir o que já foi feito?
13 Tôi nhận thấy rằng khôn ngoan có ích hơn khờ dại,Cũng như ánh sáng có lợi hơn tối tăm.
13 Percebi que a sabedoria é melhor que a insensatez, assim como a luz é melhor do que as trevas.
14 Người khôn sáng nhìn thấy hướng mình đi,Còn kẻ khờ dại dò dẫm trong đêm tối.Tuy nhiên tôi cũng biếtRồi cả hai đều cùng chung một số phận.
14 O homem sábio tem olhos que enxergam, mas o tolo anda nas trevas; todavia, percebi que ambos têm o mesmo destino.
15 Tôi tự nhủ:“Số phận kẻ dại cũng là số phận của tôi.Vậy thì khôn ngoan vượt trội như tôi được lợi ích gì?”Tôi tự đáp:“Đây cũng là phù vân, hư ảo.”
15 Então pensei comigo mesmo: O que acontece ao tolo também me acontecerá. Que proveito eu tive em ser sábio? Então eu disse no meu íntimo: Isso não faz o menor sentido!
16 Thật vậy, không ai nhớ mãi người khôn hoặc kẻ dại,Vì chúng ta biết trong những ngày tới, người khôn kẻ dại đều sẽ bị lãng quên.Than ôi! Người khôn kẻ dại rồi cũng phải chết như nhau!
16 Nem o sábio, nem o tolo, serão lembrados para sempre; nos dias futuros ambos serão esquecidos. Como pode o sábio morrer como morre o tolo?
17 Vậy, tôi hầu như chán ghét cuộc sống, vì mọi việc xảy ra trên đời đều làm cho tôi khổ tâm. Mọi sự đều khó hiểu, khó như điều khiển chiều gió vậy.
17 Por isso desprezei a vida, pois o trabalho que se faz debaixo do sol pareceu-me muito pesado. Tudo era inútil, era correr atrás do vento.
18 Tôi cũng hầu như chán ghét mọi công trình tôi lao nhọc tạo ra trên đời vì rồi phải để lại tất cả cho kẻ đến sau.
18 Desprezei todas as coisas pelas quais eu tanto me esforçara debaixo do sol, pois terei que deixá-las para aquele que me suceder.
19 Nào ai biết được người thừa kế khôn hay dại? Dù sao đi nữa, người vẫn cai quản mọi công trình tôi tạo nên nhờ khôn ngoan và lao khổ của tôi. Đây cũng là một điều hư ảo.
19 E quem pode dizer se ele será sábio ou tolo? Contudo, terá domínio sobre tudo o que realizei com o meu trabalho e com a minha sabedoria debaixo do sol. Isso também não faz sentido.
20 Ngẫm nghĩ lại, tôi chán ngán mọi công trình tôi lao khổ tạo ra trên đời này.
20 Cheguei ao ponto de me desesperar por causa de todo o trabalho em que tanto me esforcei debaixo do sol.
21 Có người đem khôn ngoan, tri thức, và tài năng ra tạo dựng cơ nghiệp, rồi để lại gia tài mình cho một người khỏi phải lao nhọc gì cả. Đây cũng là một điều hư ảo, một ngang trái thương đau.
21 Pois um homem pode realizar o seu trabalho com sabedoria, conhecimento e habilidade, mas terá que deixar tudo o que possui como herança para alguém que não se esforçou por aquilo. Isso também é um absurdo e uma grande injustiça.
22 Vậy có ích gì cho con người lao lực, lao tâm khổ nhọc trên đời này?
22 Que proveito tem um homem de todo o esforço e de toda a ansiedade com que trabalha debaixo do sol?
23 Suốt ngày, người gặp chuyện khổ tâm, công việc người làm đầy ưu phiền; ngay cả ban đêm, tâm trí người cũng chẳng được nghỉ ngơi. Đây cũng là một điều hư ảo.
23 Durante toda a sua vida, seu trabalho não passa de dor e tristeza; mesmo à noite a sua mente não descansa. Isso também é absurdo.
24 Tốt nhất cho loài người là: ăn, uống, và vui thỏa trong công việc mình làm. Tôi nhận thấy đó là sự ban cho của Đức Chúa Trời
24 Para o homem não existe nada melhor do que comer, beber e encontrar prazer em seu trabalho. E vi que isso também vem da mão de Deus.
25 Thật vậy, nếu Đức Chúa Trời không ban cho, ai có thể ăn uống, sống an vui trên đời?
25 E quem aproveitou melhor as comidas e os prazeres do que eu?
26 Vì Đức Chúa Trời ban sự khôn ngoan, tri thức, và niềm vui cho người nào đẹp lòng Ngài. Nhưng Ngài giao cho tội nhân công việc nhọc nhằn thu góp của cải để rồi ban lại cho người nào đẹp lòng Ngài. Đây cũng là một điều hư ảo, không thể hiểu nổi, như không ai điều khiển nổi chiều gió vậy.
26 Ao homem que o agrada, Deus recompensa com sabedoria, conhecimento e felicidade. Quanto ao pecador, Deus o encarrega de ajuntar e armazenar riquezas para entregá-las a quem o agrada. Isso também é inútil, é correr atrás do vento.

Ler em outra tradução

Comparar com outra

Estude este capítulo no WhatsApp

Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Eclesiastes 2, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.