Eclesiastes 2

New Vietnamese Bible (VIETNVB) vs NTLH

Sair da comparação
NTLH Nova Tradução na Linguagem de Hoje 2000
1 Tôi tự nhủ: “Tôi hãy nếm trải những điều chi mang lại niềm vui trên cõi đời này, xem thử những điều ấy có chi tốt không.” Nhưng tôi khám phá rằng loài người cũng không thỏa mãn với những điều vui thú ấy.
1 Então resolvi me divertir e gozar os prazeres da vida. Mas descobri que isso também é ilusão.
2 Tôi nhận thấy rằng đời sống hời hợt là điên rồ, còn đeo đuổi thú vui cũng chẳng thực hiện được gì.
2 Cheguei à conclusão de que o riso é tolice e de que o prazer não serve para nada.
3 Tôi noi theo nguyên tắc của các bậc hiền triết; tôi thử dùng rượu cho đến mức say, để tìm hiểu xem đó có phải là điều tốt cho loài người làm theo trong những chuỗi ngày họ sống trên đất.
3 Procurei ainda descobrir qual a melhor maneira de viver e então resolvi me alegrar com vinho e me divertir. Pensei que talvez fosse essa a melhor coisa que uma pessoa pode fazer durante a sua curta vida aqui na terra.
4 Tôi thực hiện những công trình vĩ đại. Tôi xây dựng những lâu đài, vun trồng những vườn nho.
4 Realizei grandes coisas. Construí casas para mim e fiz plantações de uvas.
5 Tôi lập cho mình những vườn hoa và vườn cây đủ mọi loại cây ăn trái.
5 Plantei jardins e pomares, com todos os tipos de árvores frutíferas.
6 Tôi đào cho mình những hồ chứa nước để tưới rừng cây rậm rạp.
6 Também construí açudes para regar as plantações.
7 Tôi mua nhiều tôi trai, tớ gái, cũng có nhiều tôi trai tớ gái sinh trưởng trong nhà. Tôi lại có nhiều bầy súc vật, bò và chiên dê, nhiều hơn tất cả những vì vua sống trước tôi tại Giê-ru-sa-lem.
7 Comprei muitos escravos e além desses tive outros, nascidos na minha casa. Tive mais gado e mais ovelhas do que todas as pessoas que moraram em Jerusalém antes de mim.
8 Tôi thâu chứa bạc vàng; châu báu các vua chúa triều cống. Tôi chiêu mộ nhiều nam nữ ca sĩ; còn nói về lạc thú của đàn ông, tôi có biết bao nhiêu cung phi hầu hạ.
8 Também ajuntei para mim prata e ouro dos tesouros dos reis e das terras que governei. Homens e mulheres cantaram para me divertir, e tive todas as mulheres que um homem pode desejar.
9 Vậy tôi trở nên sang trọng vượt trội hơn mọi vì vua sống trước tôi tại Giê-ru-sa-lem. Trong khi đó tôi vẫn tiếp tục noi theo nguyên tắc khôn ngoan của các bậc hiền triết.
9 Sim! Fui grande. Fui mais rico do que todos os que viveram em Jerusalém antes de mim, e nunca me faltou sabedoria.
10 Tôi chẳng bỏ qua bất cứ điều gì mắt tôi ưa thích.Tôi chẳng từ khước một thú vui nào.Thật tôi vui thỏa trong mọi công lao khó nhọc của mình,Và niềm vui thỏa này là phần thưởng cho mọi công lao của tôi.
10 Consegui tudo o que desejei. Não neguei a mim mesmo nenhum tipo de prazer. Eu me sentia feliz com o meu trabalho, e essa era a minha recompensa.
11 Thế nhưng, khi ngẫm nghĩ lại mọi công trình tay mình thực hiện,Với bao công sức đổ dồn vào,Tôi nhận thấy mọi sự đều phù vân, hư ảo, không thể nào hiểu nổi, như không ai điều khiển nổi chiều gió thổi.Con người không tìm được lợi ích gì lâu bền trên cõi đời này.
11 Mas, quando pensei em todas as coisas que havia feito e no trabalho que tinha tido para conseguir fazê-las, compreendi que tudo aquilo era ilusão, não tinha nenhum proveito. Era como se eu estivesse correndo atrás do vento.
12 Tôi ngẫm nghĩ về sự khôn ngoan,Điên rồ, và ngu dại.Người kế vị ngôi vua có thể làm gì được?Thật ra, chỉ noi theo những gì các vua trước đã làm.
12 Então comecei a pensar no que é ser sábio e no que é ser tolo ou sem juízo. Por exemplo: será que um rei pode fazer alguma coisa que seja nova? Não! Só pode fazer o que fizeram os reis que reinaram antes dele.
13 Tôi nhận thấy rằng khôn ngoan có ích hơn khờ dại,Cũng như ánh sáng có lợi hơn tối tăm.
13 E cheguei à conclusão de que a sabedoria é melhor do que a tolice, assim como a luz é melhor do que a escuridão.
14 Người khôn sáng nhìn thấy hướng mình đi,Còn kẻ khờ dại dò dẫm trong đêm tối.Tuy nhiên tôi cũng biếtRồi cả hai đều cùng chung một số phận.
14 Os sábios podem ver para onde estão indo, mas os tolos andam na escuridão. Porém eu sei que o mesmo que acontece com os sábios acontece também com os tolos.
15 Tôi tự nhủ:“Số phận kẻ dại cũng là số phận của tôi.Vậy thì khôn ngoan vượt trội như tôi được lợi ích gì?”Tôi tự đáp:“Đây cũng là phù vân, hư ảo.”
15 Aí eu pensei assim: “O que acontece com os tolos vai acontecer comigo também. Então, o que é que eu ganhei sendo tão sábio?” E respondi: “Não ganhei nada!”
16 Thật vậy, không ai nhớ mãi người khôn hoặc kẻ dại,Vì chúng ta biết trong những ngày tới, người khôn kẻ dại đều sẽ bị lãng quên.Than ôi! Người khôn kẻ dại rồi cũng phải chết như nhau!
16 Ninguém lembra para sempre dos sábios, como ninguém lembra dos tolos. No futuro todos nós seremos esquecidos. Todos morreremos, tanto os sábios como os tolos.
17 Vậy, tôi hầu như chán ghét cuộc sống, vì mọi việc xảy ra trên đời đều làm cho tôi khổ tâm. Mọi sự đều khó hiểu, khó như điều khiển chiều gió vậy.
17 Por isso, a vida começou a não valer nada para mim; ela só me havia trazido aborrecimentos. Tudo havia sido ilusão; eu apenas havia corrido atrás do vento.
18 Tôi cũng hầu như chán ghét mọi công trình tôi lao nhọc tạo ra trên đời vì rồi phải để lại tất cả cho kẻ đến sau.
18 Tudo o que eu tinha e que havia conseguido com o meu trabalho não valia nada para mim. Sabia que teria de deixar tudo para o rei que ficasse no meu lugar.
19 Nào ai biết được người thừa kế khôn hay dại? Dù sao đi nữa, người vẫn cai quản mọi công trình tôi tạo nên nhờ khôn ngoan và lao khổ của tôi. Đây cũng là một điều hư ảo.
19 E ele poderia ser um sábio ou um tolo — quem é que sabe? No entanto, ele seria o dono de todas as coisas que eu consegui com o meu trabalho e ficaria com tudo o que a minha sabedoria me deu neste mundo. Tudo é ilusão.
20 Ngẫm nghĩ lại, tôi chán ngán mọi công trình tôi lao khổ tạo ra trên đời này.
20 Então eu me arrependi de ter trabalhado tanto e fiquei desesperado por causa disso.
21 Có người đem khôn ngoan, tri thức, và tài năng ra tạo dựng cơ nghiệp, rồi để lại gia tài mình cho một người khỏi phải lao nhọc gì cả. Đây cũng là một điều hư ảo, một ngang trái thương đau.
21 A gente trabalha com toda a sabedoria, conhecimento e inteligência para conseguir alguma coisa e depois tem de deixar tudo para alguém que não fez nada para merecer aquilo. Isso também é ilusão e não está certo!
22 Vậy có ích gì cho con người lao lực, lao tâm khổ nhọc trên đời này?
22 Nós trabalhamos e nos preocupamos a vida toda e o que é que ganhamos com isso?
23 Suốt ngày, người gặp chuyện khổ tâm, công việc người làm đầy ưu phiền; ngay cả ban đêm, tâm trí người cũng chẳng được nghỉ ngơi. Đây cũng là một điều hư ảo.
23 Tudo o que fazemos na vida não nos traz nada, a não ser preocupações e desgostos. Não podemos descansar, nem de noite. É tudo ilusão.
24 Tốt nhất cho loài người là: ăn, uống, và vui thỏa trong công việc mình làm. Tôi nhận thấy đó là sự ban cho của Đức Chúa Trời
24 A melhor coisa que alguém pode fazer é comer e beber e se divertir com o dinheiro que ganhou. No entanto, compreendi que mesmo essas coisas vêm de Deus.
25 Thật vậy, nếu Đức Chúa Trời không ban cho, ai có thể ăn uống, sống an vui trên đời?
25 Sem Deus, como teríamos o que comer ou com que nos divertir?
26 Vì Đức Chúa Trời ban sự khôn ngoan, tri thức, và niềm vui cho người nào đẹp lòng Ngài. Nhưng Ngài giao cho tội nhân công việc nhọc nhằn thu góp của cải để rồi ban lại cho người nào đẹp lòng Ngài. Đây cũng là một điều hư ảo, không thể hiểu nổi, như không ai điều khiển nổi chiều gió vậy.
26 Ele dá sabedoria, conhecimento e felicidade às pessoas de quem ele gosta. Mas Deus faz com que os maus trabalhem, economizem e ajuntem a fim de que a riqueza deles seja dada às pessoas de quem ele gosta mais. Tudo é ilusão. É tudo como correr atrás do vento.

Ler em outra tradução

Comparar com outra

Estude este capítulo no WhatsApp

Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Eclesiastes 2, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.