Eclesiastes 2

New Vietnamese Bible (VIETNVB) vs ARC

Sair da comparação
ARC Almeida Revista e Corrigida 2009
1 Tôi tự nhủ: “Tôi hãy nếm trải những điều chi mang lại niềm vui trên cõi đời này, xem thử những điều ấy có chi tốt không.” Nhưng tôi khám phá rằng loài người cũng không thỏa mãn với những điều vui thú ấy.
1 Disse eu no meu coração: Ora, vem, eu te provarei com a alegria; portanto, goza o prazer; mas eis que também isso era vaidade.
2 Tôi nhận thấy rằng đời sống hời hợt là điên rồ, còn đeo đuổi thú vui cũng chẳng thực hiện được gì.
2 Do riso disse: Está doido; e da alegria: De que serve esta?
3 Tôi noi theo nguyên tắc của các bậc hiền triết; tôi thử dùng rượu cho đến mức say, để tìm hiểu xem đó có phải là điều tốt cho loài người làm theo trong những chuỗi ngày họ sống trên đất.
3 Busquei no meu coração como me daria ao vinho (regendo, porém, o meu coração com sabedoria) e como reteria a loucura, até ver o que seria melhor que os filhos dos homens fizessem debaixo do céu, durante o número dos dias de sua vida.
4 Tôi thực hiện những công trình vĩ đại. Tôi xây dựng những lâu đài, vun trồng những vườn nho.
4 Fiz para mim obras magníficas; edifiquei para mim casas; plantei para mim vinhas.
5 Tôi lập cho mình những vườn hoa và vườn cây đủ mọi loại cây ăn trái.
5 Fiz para mim hortas e jardins e plantei neles árvores de toda espécie de fruto.
6 Tôi đào cho mình những hồ chứa nước để tưới rừng cây rậm rạp.
6 Fiz para mim tanques de águas, para regar com eles o bosque em que reverdeciam as árvores.
7 Tôi mua nhiều tôi trai, tớ gái, cũng có nhiều tôi trai tớ gái sinh trưởng trong nhà. Tôi lại có nhiều bầy súc vật, bò và chiên dê, nhiều hơn tất cả những vì vua sống trước tôi tại Giê-ru-sa-lem.
7 Adquiri servos e servas e tive servos nascidos em casa; também tive grande possessão de vacas e ovelhas, mais do que todos os que houve antes de mim, em Jerusalém.
8 Tôi thâu chứa bạc vàng; châu báu các vua chúa triều cống. Tôi chiêu mộ nhiều nam nữ ca sĩ; còn nói về lạc thú của đàn ông, tôi có biết bao nhiêu cung phi hầu hạ.
8 Amontoei também para mim prata, e ouro, e joias de reis e das províncias; provi-me de cantores, e de cantoras, e das delícias dos filhos dos homens, e de instrumentos de música de toda sorte.
9 Vậy tôi trở nên sang trọng vượt trội hơn mọi vì vua sống trước tôi tại Giê-ru-sa-lem. Trong khi đó tôi vẫn tiếp tục noi theo nguyên tắc khôn ngoan của các bậc hiền triết.
9 E engrandeci-me e aumentei mais do que todos os que houve antes de mim, em Jerusalém; perseverou também comigo a minha sabedoria.
10 Tôi chẳng bỏ qua bất cứ điều gì mắt tôi ưa thích.Tôi chẳng từ khước một thú vui nào.Thật tôi vui thỏa trong mọi công lao khó nhọc của mình,Và niềm vui thỏa này là phần thưởng cho mọi công lao của tôi.
10 E tudo quanto desejaram os meus olhos não lhos neguei, nem privei o meu coração de alegria alguma; mas o meu coração se alegrou por todo o meu trabalho, e esta foi a minha porção de todo o meu trabalho.
11 Thế nhưng, khi ngẫm nghĩ lại mọi công trình tay mình thực hiện,Với bao công sức đổ dồn vào,Tôi nhận thấy mọi sự đều phù vân, hư ảo, không thể nào hiểu nổi, như không ai điều khiển nổi chiều gió thổi.Con người không tìm được lợi ích gì lâu bền trên cõi đời này.
11 E olhei eu para todas as obras que fizeram as minhas mãos, como também para o trabalho que eu, trabalhando, tinha feito; e eis que tudo era vaidade e aflição de espírito e que proveito nenhum havia debaixo do sol.
12 Tôi ngẫm nghĩ về sự khôn ngoan,Điên rồ, và ngu dại.Người kế vị ngôi vua có thể làm gì được?Thật ra, chỉ noi theo những gì các vua trước đã làm.
12 Então, passei à contemplação da sabedoria, e dos desvarios, e da doidice; porque que fará o homem que seguir ao rei? O mesmo que outros já fizeram.
13 Tôi nhận thấy rằng khôn ngoan có ích hơn khờ dại,Cũng như ánh sáng có lợi hơn tối tăm.
13 Então, vi eu que a sabedoria é mais excelente do que a estultícia, quanto a luz é mais excelente do que as trevas.
14 Người khôn sáng nhìn thấy hướng mình đi,Còn kẻ khờ dại dò dẫm trong đêm tối.Tuy nhiên tôi cũng biếtRồi cả hai đều cùng chung một số phận.
14 Os olhos do sábio estão na sua cabeça, mas o louco anda em trevas; também, então, entendi eu que o mesmo lhes sucede a todos.
15 Tôi tự nhủ:“Số phận kẻ dại cũng là số phận của tôi.Vậy thì khôn ngoan vượt trội như tôi được lợi ích gì?”Tôi tự đáp:“Đây cũng là phù vân, hư ảo.”
15 Pelo que eu disse no meu coração: Como acontece ao tolo, assim me sucederá a mim; por que, então, busquei eu mais a sabedoria? Então, disse no meu coração que também isso era vaidade.
16 Thật vậy, không ai nhớ mãi người khôn hoặc kẻ dại,Vì chúng ta biết trong những ngày tới, người khôn kẻ dại đều sẽ bị lãng quên.Than ôi! Người khôn kẻ dại rồi cũng phải chết như nhau!
16 Porque nunca haverá mais lembrança do sábio do que do tolo; porquanto de tudo nos dias futuros total esquecimento haverá. E como morre o sábio, assim morre o tolo!
17 Vậy, tôi hầu như chán ghét cuộc sống, vì mọi việc xảy ra trên đời đều làm cho tôi khổ tâm. Mọi sự đều khó hiểu, khó như điều khiển chiều gió vậy.
17 Pelo que aborreci esta vida, porque a obra que se faz debaixo do sol me era penosa; sim, tudo é vaidade e aflição de espírito.
18 Tôi cũng hầu như chán ghét mọi công trình tôi lao nhọc tạo ra trên đời vì rồi phải để lại tất cả cho kẻ đến sau.
18 Também eu aborreci todo o meu trabalho, em que trabalhei debaixo do sol, visto como eu havia de deixá-lo ao homem que viesse depois de mim.
19 Nào ai biết được người thừa kế khôn hay dại? Dù sao đi nữa, người vẫn cai quản mọi công trình tôi tạo nên nhờ khôn ngoan và lao khổ của tôi. Đây cũng là một điều hư ảo.
19 E quem sabe se será sábio ou tolo? Contudo, ele se assenhoreará de todo o meu trabalho em que trabalhei e em que me houve sabiamente debaixo do sol; também isso é vaidade.
20 Ngẫm nghĩ lại, tôi chán ngán mọi công trình tôi lao khổ tạo ra trên đời này.
20 Pelo que eu me apliquei a fazer que o meu coração perdesse a esperança de todo trabalho em que trabalhei debaixo do sol.
21 Có người đem khôn ngoan, tri thức, và tài năng ra tạo dựng cơ nghiệp, rồi để lại gia tài mình cho một người khỏi phải lao nhọc gì cả. Đây cũng là một điều hư ảo, một ngang trái thương đau.
21 Porque há homem cujo trabalho é feito com sabedoria, e ciência, e destreza; contudo, a um homem que não trabalhou nele, o deixará como porção sua; também isso é vaidade e grande enfado.
22 Vậy có ích gì cho con người lao lực, lao tâm khổ nhọc trên đời này?
22 Porque que mais tem o homem de todo o seu trabalho e da fadiga do seu coração, em que ele anda trabalhando debaixo do sol?
23 Suốt ngày, người gặp chuyện khổ tâm, công việc người làm đầy ưu phiền; ngay cả ban đêm, tâm trí người cũng chẳng được nghỉ ngơi. Đây cũng là một điều hư ảo.
23 Porque todos os seus dias são dores, e a sua ocupação é desgosto; até de noite não descansa o seu coração; também isso é vaidade.
24 Tốt nhất cho loài người là: ăn, uống, và vui thỏa trong công việc mình làm. Tôi nhận thấy đó là sự ban cho của Đức Chúa Trời
24 Não é, pois, bom para o homem que coma e beba e que faça gozar a sua alma do bem do seu trabalho? Isso também eu vi que vem da mão de Deus.
25 Thật vậy, nếu Đức Chúa Trời không ban cho, ai có thể ăn uống, sống an vui trên đời?
25 (Porque quem pode comer ou quem pode gozar melhor do que eu?)
26 Vì Đức Chúa Trời ban sự khôn ngoan, tri thức, và niềm vui cho người nào đẹp lòng Ngài. Nhưng Ngài giao cho tội nhân công việc nhọc nhằn thu góp của cải để rồi ban lại cho người nào đẹp lòng Ngài. Đây cũng là một điều hư ảo, không thể hiểu nổi, như không ai điều khiển nổi chiều gió vậy.
26 Porque ao homem que é bom diante dele, dá Deus sabedoria, e conhecimento, e alegria; mas ao pecador dá trabalho, para que ele ajunte, e amontoe, e o dê ao bom perante a sua face. Também isso é vaidade e aflição de espírito.

Ler em outra tradução

Comparar com outra

Estude este capítulo no WhatsApp

Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Eclesiastes 2, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.