Provérbios 8

Tiếng Việt (VIE) vs NAA

Sair da comparação
NAA Nova Almeida Atualizada 2017
1 Sự khôn ngoan há chẳng kêu lên sao? Sự thông sáng há không vang tiếng mình ra ư?
1 Por acaso, não clama a Sabedoria? E o Entendimento não faz ouvir a sua voz?
2 Sự khôn ngoan đứng trên chót các nơi cao, Ngoài đường, tại các ngã tư.
2 A Sabedoria se coloca no topo dos lugares elevados, junto ao caminho, nas encruzilhadas das veredas.
3 Gần bên cửa thành, tại nơi vào thành, Ở chỗ đông trong cửa thành, sự khôn ngoan la lên rằng:
3 Junto aos portões, à entrada da cidade, à entrada dos portões ela está gritando:
4 Hỡi loài người, ta kêu gọi các ngươi, Và tiếng ta hướng về con cái loài người!
4 “É para vocês, homens, que eu clamo; e a minha voz se dirige aos filhos dos homens.
5 Hỡi kẻ ngu muội, hãy hiểu sự khôn khéo; Hỡi kẻ dại dột, lòng ngươi khá nên thông sáng.
5 Vocês, ingênuos, entendam a prudência; e vocês, tolos, entendam a sabedoria.
6 Hãy nghe, vì ta sẽ nói điều tốt lành, Ta hở môi ra mà dạy điều ngay thẳng.
6 Escutem, pois falarei coisas excelentes; os meus lábios dirão o que é reto.
7 Vì miệng ta sẽ nói chân thật; Còn môi ta ghét sự gian ác.
7 Porque a minha boca proclamará a verdade; os meus lábios detestam a maldade.
8 Các lời miệng ta điều xưng hiệp sự công bình. Trong nó chẳng có điều chi cong vạy hoặc gian tà.
8 Todas as palavras da minha boca são justas; não há nelas nenhuma coisa torta, nem perversa.
9 Thảy đều rõ ràng cho người nào hiểu biết, Và ngay thẳng cho người nào tìm được sự tri thức.
9 Todas são retas para os que têm compreensão e justas, para os que acham o conhecimento.
10 Khá nhận sự khuyên dạy ta, chớ lãnh tiền bạc, Thà lãnh sự tri thức hơn là vàng chọn lựa;
10 Aceitem o meu ensino, em vez da prata, e o conhecimento, em lugar do ouro escolhido.
11 Vì sự khôn ngoan có giá hơn châu ngọc, Và các vật mình ưa thích hơn hết chẳng sánh bằng nó đặng.
11 Porque a sabedoria é melhor do que as joias, e tudo o que se possa desejar não se compara com ela.
12 Ta, là sự khôn ngoan, đồng ở với sự thông minh, Và tìm được sự hiểu biết, và sự dẽ dặt.
12 Eu, a Sabedoria, moro com a prudência e disponho de conhecimento e de conselhos.
13 Sự kính sợ Đức Giê-hô-va, ấy là ghét điều ác; Ta ghét sự kiêu ngạo, xấc xược, con đường ác, và miệng gian tà.
13 O temor do Senhor consiste em odiar o mal. Eu odeio a soberba, a arrogância, o mau caminho e a boca que fala coisas perversas.
14 Mưu luận và sự thông thạo đều thuộc về ta; Ta là sự thông sáng; năng lực vốn thuộc về ta.
14 Meu é o conselho e a verdadeira sabedoria; eu sou o Entendimento, minha é a fortaleza.
15 Nhờ ta, các vua cai trị, Và những quan trưởng định sự công bình.
15 Por meio de mim os reis governam, e os príncipes decretam justiça.
16 Nhờ ta, các quan trưởng, người tước vị, Và các quan xét thế gian đều quản hạt.
16 Por meio de mim governam os príncipes, os nobres e todos os juízes da terra.
17 Ta yêu mến những người yêu mến ta, Phàm ai tìm kiếm ta sẽ gặp ta.
17 Eu amo os que me amam; os que me procuram me encontram.
18 Sự giàu có, sự tôn trọng, Của cải bền lâu, và sự công bình, đều ở nơi ta.
18 Riquezas e honra estão comigo, bens duráveis e justiça.
19 Bông trái ta tốt hơn vàng, đến đỗi hơn vàng ròng; Hoa lợi của ta quí hơn bạc cao.
19 O meu fruto é melhor do que o ouro, do que o ouro refinado; e o meu rendimento é maior do que a prata escolhida.
20 Ta đi trong con đường công bình, Giữa các lối ngay thẳng,
20 Ando pelo caminho da justiça e sigo as veredas do juízo,
21 Đặng làm cho kẻ yêu mến ta hưởng được của cải thật, Và làm cho đầy dẫy các kho tàng của họ.
21 para dotar de bens os que me amam e encher os seus tesouros.”
22 Trong buổi Đức Giê-hô-va khởi cuộc tạo hóa, Và thời thái cổ, trước khi chưa dựng nên muôn vật thì Ngài đã có ta.
22 O Senhor me possuía no início da sua obra, antes das suas obras mais antigas.
23 Ta đã được lập từ trước vô cùng Từ khi nguyên thỉ, trước khi dựng nên trái đất.
23 Fui estabelecida desde a eternidade, desde o princípio, antes do começo da terra.
24 Lúc chưa có vực sâu, chưa có nguồn chảy nước nhiều. Thì ta đã sanh ra rồi.
24 Nasci antes de haver abismos, quando ainda não havia fontes carregadas de águas.
25 Trước khi núi non chưa lập nên, Và các gò nổng chưa có;
25 Antes que os montes fossem firmados, antes de haver colinas, eu nasci.
26 Trước khi Đức Giê-hô-va chưa có dựng nên đất, đồng ruộng, Và tro bụi đầu tiên của thế gian, thì ta đã sanh ra rồi.
26 Deus ainda não tinha feito a terra, nem os seus campos, nem sequer o princípio do pó do mundo.
27 Khi Đức Chúa Trời lập các từng trời, Và đặt cái vòng trên mặt vực sâu, thì có ta ở đó.
27 Eu estava lá quando ele preparava os céus, quando traçava o horizonte sobre a face do abismo.
28 Khi Ngài làm cho kiên cố các từng mây trên cao, Khiến các nguồn vực sâu vững chắc,
28 Estava lá quando ele firmava as nuvens de cima, quando estabelecia as fontes do abismo,
29 Định bờ cõi cho biển, Để nước không tràn phạm điều răn của Ngài, Và khi Ngài lập nên trái đất,
29 quando fixava ao mar os seus limites, para que as águas não transgredissem a sua ordem. Quando ele compunha os fundamentos da terra,
30 Thì ta ở bên Ngài làm thợ cái, Hằng ngày ta là sự khoái lạc Ngài, Và thường thường vui vẻ trước mặt Ngài.
30 eu estava com ele e era o seu arquiteto. Dia após dia eu era a sua alegria, divertindo-me em todo o tempo na sua presença,
31 Ta lấy làm vui vẻ về chỗ có người ở trên trái đất của Ngài, Và sự vui thích ta ở nơi con cái loài người.
31 divertindo-me no seu mundo habitável e achando alegria junto aos filhos dos homens.
32 Vậy, bây giờ, các con ơi! hãy nghe ta; Ai giữ đạo ta lấy làm có phước thay.
32 Agora, meus filhos, escutem o que eu digo, porque felizes são os que guardam os meus caminhos.
33 Khá nghe lời khuyên dạy, và ở khôn ngoan, Chớ nên từ chối nó.
33 Ouçam o ensino, sejam sábios e não o rejeitem.
34 Người nào nghe lời ta, Hằng ngày tỉnh thức tại nơi cửa ta, Và chờ đợi ở bên các trụ cửa ta, lấy làm có phước thay.
34 Feliz é aquele que me ouve, vigiando dia após dia diante das minhas portas, esperando na entrada da minha casa.
35 Vì hễ ai tìm được ta, thì gặp sự sống, Và sẽ được ơn của Đức Giê-hô-va;
35 Pois quem me encontra encontra a vida e alcança favor do
36 Nhưng ai phạm đến ta, làm hại cho linh hồn mình; Còn kẻ nào ghét ta, ắt ưa thích sự chết.
36 Mas quem peca contra mim violenta a própria alma. Todos os que me odeiam amam a morte.

Ler em outra tradução

Comparar com outra

Estude este capítulo no WhatsApp

Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Provérbios 8, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.