Salmos 69

New Vietnamese Bible (VIETNVB) vs NAA

Sair da comparação
NAA Nova Almeida Atualizada 2017
1 Lạy Đức Chúa Trời, xin Ngài cứu vớt tôi,Vì các dòng nước đã tràn đến linh hồn tôi.
1 Salva-me, ó Deus, porque as águas me sobem até a alma.
2 Tôi bị lún trong bùn sâu,Không nơi tựa chân.Tôi đã đến chỗ nước sâuVà dòng nước lũ tràn ngập tôi.
2 Estou atolado num profundo lamaçal, que não dá pé. Entrei em águas profundas, e estou sendo arrastado pela correnteza.
3 Tôi kêu cứu đến kiệt sức,Cổ họng tôi đau rát.Mắt tôi mòn mỏiVì trông đợi Đức Chúa Trời tôi.
3 Estou cansado de clamar, e a minha garganta secou; os meus olhos esmorecem de tanto esperar por meu Deus.
4 Những kẻ ghét tôi vô cớNhiều hơn tóc trên đầu tôi.Những kẻ thù ghét tôi vô cớ,Những kẻ muốn hủy diệt tôi thật là mạnh thay.Tôi buộc phải bồi thường,Vật tôi không ăn cắp.
4 Os que, sem razão, me odeiam são mais numerosos do que os cabelos da minha cabeça; são poderosos os que querem me destruir, os que com falsos motivos são meus inimigos; por isso, tenho de restituir o que não roubei.
5 Lạy Đức Chúa Trời, Ngài biết sự dại dột của tôi,Những tội lỗi tôi đã phạm không giấu được Ngài.
5 Tu, ó Deus, bem conheces a minha insensatez, e as minhas culpas não te são ocultas.
6 Lạy Chúa là CHÚA Vạn Quân, xin đừng để những người trông cậy NgàiPhải hổ thẹn vì tôi.Lạy Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên,Xin chớ để những người tìm kiếm NgàiPhải nhục nhã vì tôi.
6 Não sejam envergonhados por minha causa os que esperam em ti, ó nem por minha causa sofram vexame os que te buscam, ó Deus de Israel.
7 Ấy là vì Ngài mà tôi mang điều nhục nhã,Mặt tôi bị phủ đầy sự khinh bỉ.
7 Pois tenho suportado afrontas por amor de ti, e o meu rosto se cobre de vergonha.
8 Tôi đã trở nên một người xa lạ đối với anh em tôi,Một người ngoại quốc đối với anh em cùng một mẹ.
8 Tornei-me um estranho para os meus irmãos e um desconhecido para os filhos da minha mãe.
9 Vì lòng nhiệt thành về nhà Chúa đã ăn nuốt tôi,Những lời sỉ nhục mà người ta lăng nhục Ngài đã đổ xuống trên tôi.
9 Pois o zelo da tua casa me consumiu, e as ofensas dos que te insultam caem sobre mim.
10 Dù khi linh hồn tôi khóc lócVà kiêng ăn thì điều đó cũng trở thành cớ để tôi bị lăng nhục.
10 Chorei, jejuei, mas até isto se tornou motivo de deboche para mim.
11 Dù khi tôi mặc vải thô tang chếThì tôi cũng trở nên trò cười cho chúng.
11 Pus um pano de saco por roupa e me tornei motivo de provérbio para eles.
12 Những người ngồi nơi cổng thành chế giễu tôi,Tôi thành đề tài câu hát của kẻ say sưa.
12 Os que se assentam junto ao portão da cidade falam de mim, e sou motivo para cantigas de bêbados.
13 Lạy CHÚA, còn tôi, vào lúc Ngài gia ân,Tôi cầu nguyện cùng Ngài.Lạy Đức Chúa Trời, vì tình yêu thương lớn lao, và sự giải cứu chắc chắn của Ngài,Xin đáp lời tôi.
13 Quanto a mim, porém, Senhor , faço a ti, em tempo favorável, a minha oração. Responde-me, ó Deus, pela riqueza da tua graça. Pela tua fidelidade em socorrer,
14 Xin cứu tôi khỏi vũng bùn,Xin đừng để tôi bị lún,Xin giải cứu tôi khỏi những kẻ ghét tôiVà khỏi vùng nước sâu.
14 livra-me do lamaçal, para que eu não me afunde; que eu seja salvo dos que me odeiam e das profundezas das águas.
15 Xin chớ để dòng nước lũ tràn ngập tôi,Vực sâu không nuốt sống tôiVà miệng huyệt mả không lấp lại trên tôi.
15 Não deixes que a corrente das águas me arraste, nem que as profundezas do abismo me engulam, nem que se feche sobre mim a boca do poço.
16 Lạy CHÚA, vì tình yêu thương tốt lành của Ngài, xin đáp lời tôi,Vì lòng thương xót dồi dào của Ngài, xin quay lại cùng tôi.
16 Responde-me, Senhor , pois compassiva é a tua graça; volta-te para mim segundo a riqueza das tuas misericórdias.
17 Xin chớ lánh mặt cùng tôi tớ Ngài, vì tôi đang lâm cảnh hoạn nạn,Xin mau mau đáp lời tôi.
17 Não escondas o rosto ao teu servo, pois estou angustiado; responde-me depressa.
18 Xin hãy lại gần tôi, cứu chuộc linh hồn tôi.Xin giải phóng tôi khỏi kẻ thù nghịch.
18 Aproxima-te de minha alma e redime-a; resgata-me por causa dos meus inimigos.
19 Chính Ngài biết những điều nhục nhã, sự hổ thẹn và sự sỉ nhục của tôi.Tất cả các kẻ thù tôi đều ở trước mặt Chúa.
19 Tu conheces a minha afronta, a minha vergonha e o meu vexame; todos os meus adversários estão à tua vista.
20 Tôi thật đau khổ,Lòng tôi tan nát vì nhục nhã.Tôi mong được cảm thông nhưng không có,Tôi tìm người an ủi nhưng không gặp.
20 As afrontas partiram o meu coração, e desfaleci. Esperei por piedade, mas foi em vão. Esperei por consoladores, mas não apareceu ninguém.
21 Chúng nó cho tôi cỏ đắng làm thức ănVà khi tôi khát chúng cho tôi uống giấm.
21 Por alimento me deram fel e na minha sede me deram a beber vinagre.
22 Nguyện bàn tiệc trước mặt chúng nó trở thành bẫy tròng,Bữa ăn bình an của chúng trở thành lưới sập.
22 Que a mesa deles se torne em laço diante deles, e a prosperidade, em armadilha.
23 Nguyện mắt chúng nó bị mờ tối, không thấy được nữa,Lưng chúng nó bị run rẩy luôn luôn.
23 Que os olhos deles se escureçam, para que não vejam; e faze com que as suas costas não parem de tremer.
24 Xin cơn phẫn nộ Ngài đổ trên chúng,Nguyện cơn giận dữ Ngài bắt lấy chúng.
24 Derrama sobre eles a tua indignação, e que o furor da tua ira os alcance.
25 Nguyện chỗ ở của chúng bị hoang phế,Không ai ở trong trại chúng.
25 Fique deserta a sua morada, e não haja quem habite nas suas tendas.
26 Vì chúng nó ngược đãi những người Ngài đã đánhVà thuật lại nỗi đau đớn của những người Ngài làm cho bị thương.
26 Pois perseguem a quem tu feriste e ficam falando sobre as dores daqueles a quem golpeaste.
27 Xin buộc tội chúng, hết tội này đến tội khác,Xin đừng cho chúng hưởng sự công chính của Ngài.
27 Soma-lhes iniquidade à iniquidade, e que não tenham acesso à tua justiça.
28 Nguyện chúng bị xóa tên khỏi sách sự sốngVà không được ghi tên với người công chính.
28 Sejam riscados do Livro dos Vivos e não sejam incluídos na lista dos justos.
29 Còn tôi thì bị khốn khổ và đau đớn. Lạy Đức Chúa Trời,Nguyện sự cứu rỗi của Ngài đặt tôi lên nơi cao.
29 Quanto a mim, porém, estou sofrendo e aflito; que a tua salvação, ó Deus, me ponha num alto refúgio.
30 Tôi sẽ ca ngợi danh Đức Chúa Trời bằng bài caVà dùng lời cảm tạ tán dương Ngài.
30 Louvarei com cânticos o nome de Deus; quero exaltá-lo com ações de graças.
31 Điều ấy đẹp lòng CHÚA hơn là dâng hiến bò,Dù là bò đực có sừng và móng rẽ.
31 Isso será muito mais agradável ao do que um boi ou um novilho com chifres e cascos.
32 Những kẻ khốn cùng sẽ trông thấy và vui mừng.Hỡi những người tìm kiếm Đức Chúa Trời, lòng các ngươi sẽ được khuyến khích.
32 Que os aflitos vejam isso e se alegrem; quanto a vocês que buscam a Deus, que o seu coração se reanime.
33 Vì CHÚA nghe kẻ nghèo khóVà không khinh bỉ những người của Ngài đang bị tù.
33 Porque o Senhor ouve os necessitados e não despreza os seus prisioneiros.
34 Hỡi trời, đất, biển và tất cả sinh vật trong đó,Hãy ca ngợi Ngài.
34 Louvem-no os céus e a terra, os mares e tudo o que neles se move.
35 Vì Đức Chúa Trời sẽ giải cứu Si-ônVà xây lại các thành Giu-đa.Rồi dân Ngài sẽ ở đó và chiếm hữu nó.
35 Porque Deus salvará Sião e edificará as cidades de Judá; habitarão ali e tomarão posse de Sião.
36 Dòng dõi của tôi tớ Ngài sẽ thừa hưởng đất ấyVà những người yêu mến danh Ngài sẽ cư ngụ tại đó.
36 Também a descendência dos seus servos a herdará, e nela habitarão os que amam o nome de Deus.

Ler em outra tradução

Comparar com outra

Estude este capítulo no WhatsApp

Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Salmos 69, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.