Joel 2

New Vietnamese Bible (VIETNVB) vs NAA

Sair da comparação
NAA Nova Almeida Atualizada 2017
1 Hãy thổi tù và tại Si-ôn,Hãy vang tiếng báo động khắp núi thánh Ta!Toàn dân trong xứ sẽ run rẩy,Vì ngày của CHÚA đến gần,Thật, ngày ấy gần kề.
1 Toquem a trombeta em Sião e deem o alarme no meu santo monte. Que todos os moradores da terra tremam, porque o Dia do está chegando; já está próximo.
2 Ngày tối tăm dày đặc,Ngày mây mù u ám.Một đội quân đông đúc hùng mạnhBủa giăng khắp núi đồi như bình minh.Một cảnh tượng như vậy xưa nay chưa hề có,Và muôn năm muôn đời về sau, cũng chẳng hề có nữa.
2 É dia de trevas e escuridão, dia de nuvens e densas trevas! Como a luz do amanhecer sobre os montes, assim se difunde um povo grande e poderoso, como nunca houve igual desde os tempos antigos, nem haverá outro depois dele pelos anos seguintes, de geração em geração.
3 Đi trước đội quân, có lửa thiêu nuốt,Theo sau đội quân, có ngọn lửa cháy phừng.Trước khi đội quân kéo đến, đất đai như vườn Ê-đen,Sau khi chúng đi qua, chỉ còn đồng hoang điêu tàn.Cũng chẳng còn ai sống sót.
3 À frente dele vai fogo devorador, atrás dele vêm chamas destruidoras. Diante desse povo, a terra é como o jardim do Éden; mas, atrás dele, fica devastada como um deserto. Nada lhe escapa.
4 Chúng có hình dạng tựa như đàn ngựa,Chúng xông tới như ngựa chiến phi nước đại.
4 A sua aparência é como a de cavalos; e, como cavaleiros, assim correm.
5 Chúng nhảy trên các đỉnh núi,Như xe chiến mã kéo tới rầm rầm,Như lửa ngọn thiêu đốt rạ rào rào,Như đội quân hùng hậu, dàn trận sẵn sàng.
5 Com um estrondo semelhante ao de carros de guerra, eles vêm saltando no alto dos montes, crepitando como chamas de fogo que devoram a palha, como um povo poderoso posto em ordem de combate.
6 Thấy đội quân, người người phát cơn đau quặn thắt,Mọi gương mặt đều thất sắc.
6 Diante deles, os povos tremem; todos os rostos empalidecem.
7 Chúng chạy xông tới như binh sĩ,Chúng leo tường thành như chiến sĩ;Ai nấy tiến theo đường mình,Không lấn đường kẻ khác.
7 Correm como valentes; como homens de guerra, sobem muros. Cada um vai no seu caminho e não se desvia da sua fileira.
8 Chúng không xô đẩy nhau,Ai nấy tiến theo đường mình;Chúng tụt xuống đường hầmMà không rã ngũ.
8 Não empurram uns aos outros; cada um segue o seu rumo. Avançam entre as lanças e não se detêm no seu caminho.
9 Chúng nhảy ùa vào thành,Chạy trên tường,Leo vào nhà, ngang qua cửa sổ,Như tên trộm.
9 Invadem a cidade, correm pelas muralhas, sobem pelas paredes das casas, entram pelas janelas como ladrões.
10 Trước khi chúng đến, đất rúng động,Các tầng trời rung chuyển,Mặt trời, mặt trăng tối sầm lại,Các vì sao thâu ánh sáng về.
10 Diante deles, a terra treme e os céus se abalam; o sol e a lua se escurecem, e as estrelas deixam de brilhar.
11 Tiếng CHÚA vang dậyTrước mặt đội quân Ngài.Đội quân Ngài thật đông đảo lắm,Kẻ thi hành mạng lịnh Ngài thật hùng mạnh.Ngày của CHÚA thật vĩ đại,Đáng kinh sợ vô cùng.Nào ai chịu nổi?
11 O Senhor levanta a voz diante do seu exército. Porque o seu arraial é enorme, e quem executa as suas ordens é poderoso. Sim, grande e mui terrível é o Dia do Quem o poderá suportar?
12 CHÚA phán:“Dù vậy, ngay giờ này,Các con hãy dốc lòng trở về cùng Ta,Hãy kiêng ăn, khóc lóc, và đấm ngực kêu van.
12 Ainda assim, agora mesmo, diz o “Convertam-se a mim de todo o coração; com jejuns, com choro e com pranto.
13 Hãy xé luôn cả lòng các con,Đừng chỉ xé áo mà thôi.”Hãy trở về với CHÚA, Đức Chúa Trời của ông bà,Vì Ngài nhân từ, thương xót,Chậm giận, kiên định trong tình yêu thương,Và vui lòng đổi ý, không giáng tai họa.
13 Rasguem o coração, e não as suas roupas.” Convertam-se ao seu Deus, porque ele é bondoso e compassivo, tardio em irar-se e grande em misericórdia, e muda de ideia quanto ao mal que havia anunciado.
14 Biết đâu Ngài sẽ nghĩ lại và đổi ý,Để lại phúc lành theo sau Ngài:Lễ ngũ cốc và rượuĐể dâng lên CHÚA, Đức Chúa Trời của ông bà.
14 Quem sabe se ele não se voltará e mudará de ideia, e, ao passar, deixe uma bênção, para que vocês possam trazer ofertas de cereais e libações ao
15 Hãy thổi tù và tại Si-ôn,Hãy rao truyền sự kiêng ăn,Hãy loan báo buổi họp trọng thể!
15 Toquem a trombeta em Sião, proclamem um santo jejum, convoquem uma reunião solene.
16 Hãy triệu tập dân chúng,Hãy rao truyền buổi họp thánh,Hãy tập họp các bậc lão thành,Hãy nhóm họp các trẻ em,Ngay cả trẻ thơ còn đang bú!Chú rể và cô dâuCũng hãy ra khỏi phòng riêng!
16 Reúnam o povo, santifiquem a congregação, congreguem os anciãos, reúnam as crianças e os que mamam no peito. Que o noivo saia do seu quarto, e a noiva, dos seus aposentos.
17 Giữa cổng đền và bàn thờ, các thầy tế lễ, những người phụng sự CHÚA,Nên khóc lóc van xin:“Lạy CHÚA, xin thương xót dân Ngài,Xin đừng để gia sản Ngài bị sỉ nhục,Làm trò cười cho các dân các nước.Sao các dân nước ngoài dám hỏi nhau:‘Đức Chúa Trời chúng nó đâu rồi?’”
17 Que os sacerdotes, ministros do chorem entre o pórtico e o altar, e orem: “Poupa o teu povo, ó e não faças da tua herança um objeto de deboche e de zombaria entre as nações. Por que hão de dizer entre os povos: ‘Onde está o Deus deles?’”
18 Bấy giờ CHÚA tỏ lòng nhiệt thành đối với đất mình,Và thương xót dân mình.
18 Então o Senhor teve grande amor pela sua terra e se compadeceu do seu povo.
19 CHÚA đáp lời dân Ngài:Này, Ta ban cho các con lúa mì, rượu mới, và dầu;Các con sẽ no nê thỏa thích.Ta sẽ không bao giờ để các conPhải chịu sỉ nhục giữa các dân các nước nữa.
19 O Senhor respondeu ao seu povo: “Eis que lhes envio o cereal, o vinho e o azeite, e vocês ficarão satisfeitos. Nunca mais farei de vocês motivo de zombaria entre as nações.
20 Quân thù phương bắc, Ta sẽ đẩy xa khỏi các con,Đuổi chúng đến vùng đất khô cằn hoang vắng.Tiền quân của chúng sẽ sa xuống biển đông,Hậu quân của chúng sẽ sa xuống biển tây.Chúng sẽ xông lên mùi hôi thối,Bốc mùi tanh hôi,Vì chúng đã dám hành động ngạo mạn.
20 Mas o invasor que vem do Norte, eu o removerei para longe de vocês e o lançarei para uma terra seca e deserta. Lançarei a sua vanguarda para o mar oriental, e a sua retaguarda, para o mar ocidental. Subirá o seu mau cheiro, e subirá a sua podridão; porque agiu poderosamente.”
21 Hỡi đất đai, đừng sợ!Hãy hân hoan vui mừng,Vì CHÚA đã làm những việc vĩ đại!
21 “Não tenha medo, ó terra; alegre-se e exulte, porque o faz grandes coisas.
22 Hỡi loài thú rừng, đừng sợ!Vì bãi cỏ nơi đồng hoang sẽ xanh mướt,Cây cối ra trái tốt tươi,Cây vả, cây nho, sum sê hoa quả.
22 Não tenham medo, animais selvagens, porque os pastos do deserto reverdecerão, porque as árvores darão os seus frutos, as figueiras e as videiras produzirão com vigor.
23 Hỡi con cái Si-ôn, hãy hân hoan vui mừngTrong CHÚA, Đức Chúa Trời của các ông bà!Vì Ngài ban mưa mùa thu cho các ông bàTheo sự thành tín của Ngài,Ngài cho mưa rào đổ xuống các ông bà,Mưa thu và mưa xuân, như ngày trước.
23 Filhos de Sião, alegrem-se e exultem no porque ele lhes dará as chuvas em justa medida; fará descer, como no passado, as primeiras e as últimas chuvas.
24 Sân đạp lúa sẽ đầy ắp lúa mì,Bồn ép tràn đầy rượu và dầu.
24 As eiras se encherão de trigo, e os lagares transbordarão de vinho e de azeite.
25 Ta sẽ đền bù cho các conNhững năm mà châu chấu, hoàng trùng,Thạch sành, và cào cào đã ăn sạch mùa màng.Đó là đội quân hùng hậuTa sai đến đánh phạt các con.
25 Restituirei os anos que foram consumidos pelos gafanhotos — o migrador, o devorador e o destruidor —, o meu grande exército que enviei contra vocês.
26 Các con sẽ ăn uống no nê thỏa thích,Và sẽ ca ngợi danh CHÚA, Đức Chúa Trời của các con,Đấng đã làm những việc diệu kỳ giữa các con.Dân Ta sẽ không bao giờ bị sỉ nhục nữa.
26 Vocês terão comida em abundância e ficarão satisfeitos, e louvarão o nome do seu Deus, que fez maravilhas em favor de vocês. E nunca mais o meu povo será envergonhado.
27 Bấy giờ các con sẽ nhận biết rằng chính Ta đang ngự trị giữa Y-sơ-ra-ên,Và chính Ta, CHÚA, là Đức Chúa Trời của các con.Không có thần nào khác,Và dân Ta sẽ không bao giờ bị sỉ nhục nữa.
27 Vocês saberão que eu estou no meio de Israel, e que eu sou o o Deus de vocês, e que não há outro. E nunca mais o meu povo será envergonhado.”
28 Sau đó, Ta sẽ đổ Thần Ta trên tất cả các con:Con trai và con gái các con sẽ nói tiên tri,Những người già sẽ được báo mộng,Các thanh niên sẽ thấy khải tượng.
28 “E acontecerá, depois disso, que derramarei o meu Espírito sobre toda a humanidade. Os filhos e as filhas de vocês profetizarão, os seus velhos sonharão, e os seus jovens terão visões.
29 Trong những ngày ấy, Ta cũng sẽ đổ Thần TaTrên tôi trai tớ gái của các con.
29 Até sobre os servos e sobre as servas derramarei o meu Espírito naqueles dias.
30 Ta cũng sẽ tỏ ra những điềm lạ trên trờiVà dưới đất:Máu, lửa, và luồng khói;
30 Mostrarei prodígios no céu e na terra: sangue, fogo e colunas de fumaça.
31 Mặt trời sẽ trở nên tối tăm,Mặt trăng đỏ tựa máu,Trước khi ngày của CHÚA xuất hiện,Ngày vĩ đại kinh hoàng.
31 O sol se transformará em trevas, e a lua, em sangue, antes que venha o grande e terrível Dia do
32 Bấy giờ, mọi người cầu khẩnDanh CHÚA đều sẽ được cứu,Vì trên núi Si-ôn, và trong thành Giê-ru-sa-lem,Sẽ có những người được cứu thoát, như CHÚA đã hứa:Những người do CHÚA gọi sẽ được sống sót.
32 E acontecerá que todo aquele que invocar o nome do Senhor será salvo. Porque, no monte Sião e em Jerusalém, estarão os que forem salvos, como o Senhor prometeu; e, entre os sobreviventes, aqueles que o Senhor chamar.

Ler em outra tradução

Comparar com outra

Estude este capítulo no WhatsApp

Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Joel 2, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.