Gálatas 6

New Vietnamese Bible (VIETNVB) vs AAI

Sair da comparação
AAI TUR GEWASIN O BAIBASIT BOUBUN
1 Thưa anh chị em, nếu có ai tình cờ phạm lỗi gì, thì anh chị em là những người thuộc linh, hãy lấy tinh thần nhu mì mà sửa chữa người ấy. Chính anh chị em hãy đề phòng, kẻo cũng bị cám dỗ.
1 Taitu tuwai’inah, kwa baitumatumayan orot ta bowabow kakafin nab nitaiy nare’er na’at, kwa iyab Anun kakafiyinamaim kwama’am taituwa kwanibais kwanabora’ah maiye. Baise yate nanub tur hamehamenamaim kwanibais. Naatu mata toniwa’an men nati routobon ta’imon auman wanawanan kwanarunamih.
2 Hãy mang gánh nặng cho nhau, như vậy anh chị em sẽ chu toàn luật của Chúa Cứu Thế.
2 Taituwa kwanibaisih bairi hai bit kwana’abar, ef nati na’atube kwanasisinaf, kwa i Keriso ana ofafar kwabifanabow.
3 Vì nếu có ai tưởng mình là quan trọng nhưng thật ra chẳng là gì cả thì chỉ tự lừa dối mình đấy thôi.
3 Orot yait enotanot i anababatun turobe ana orot, baise wanawananamaim i men turobe na’at, nati orot i taiyuwin ebifuwifuw.
4 Nhưng mỗi người nên xem xét việc làm của chính mình rồi sẽ thấy hãnh diện, nhưng chỉ vì chính mình chứ không phải vì so sánh với người khác.
4 Kwa etei i taiyuw a bowabow kwananutitiy, a bowabow menatan kwabowabow ora’ara’at isan bigewasin, basit inao ra’ara’at. Baise men o a bowabowamaim taituwa ana bowabow inafufunimih.
5 Vì mỗi người đều phải mang gánh riêng của mình.
5 Anayabin orot ta’ita’imon ibo taiyuwin ana bit ea’abar.
6 Người được học Lời Chúa hãy chia sẻ tất cả tài vật tốt đẹp với người dạy dỗ mình.
6 Sabuw iyab Kirisiyan ana tur gewasin tibi’obaibiyih, ana gewasin nati sabuw i boro baibais kafai baiyan na’atube hai bai’obaiyenayan orot hinitin.
7 Đừng để bị lừa dối. Đức Chúa Trời không chịu khinh thường đâu. Vì ai gieo điều gì thì sẽ gặt điều ấy.
7 Men taiyuw kwanifufuwimih, men karam boro God kwanigigim. Orot ana ub abisa etatanum boro i na’atube nafour.
8 Người nào theo tính xác thịt mình mà gieo thì sẽ do tính xác thịt gặt lấy sự hủy hoại. Còn người nào theo Thánh Linh mà gieo thì sẽ từ Thánh Linh gặt sự sống vĩnh phúc.
8 Sabuw iyab hima bowabow kakafin biyah ana kok akisin tisisinaf ana ro’on boro baimakiy naatu morob hinafour. Baise sabuw iyab Anun Kakafiyin ana kok hima tisisinaf boro ma’ama wanatowan Anun Kakafiyinane hinafour.
9 Chớ nản chí trong việc làm điều lành, vì nếu không chểnh mảng thì đến đúng kỳ chúng ta sẽ gặt.
9 Imih bowabow gewasin tabowabow men tanahahar. Naatu ata bowabow baihamiyinamih tananot, anayabin fourin ana veya anababatun nan natitit boro gewasin tanafour.
10 Vậy, đang khi có dịp tiện, chúng ta hãy làm việc lành cho mọi người, nhất là cho những anh chị em trong cùng gia đình đức tin.
10 Isan imih it ata veya kebor tanabaibimaim sabuw etei isah gewasin tanasinaf. Na’atube taituwat it bairi ata baitumatum ta’imon ata kou’ayomaim tema’am auman isah tananot.
11 Anh chị em hãy xem, chính tay tôi viết những dòng chữ thật lớn cho anh chị em.
11 Au tur yomaninamaim kirum gagamih na’in taiyuwu umau’umaim kwa a fef akikirum kwa’itah.
12 Tất cả những kẻ muốn phô trương các nghi lễ về phần xác là người cố ép anh chị em chịu phép cắt bì. Họ làm như thế chỉ để khỏi bị bắt bớ vì thập tự giá của Chúa Cứu Thế.
12 Sabuw afa i biyat ufunane ana gewasin isan kwa teo’okikini, ya hinikitabir saise a’ar kanabih hina’afuw. Sawar iti tisisinaf anayabin i Keriso onaf afe’en momorob ana biyababan tehahaiw.
13 Vì ngay cả những kẻ cắt bì, chính họ cũng không tuân giữ Kinh Luật nhưng muốn anh chị em chịu cắt bì để có thể khoe khoang về các nghi lễ trên thân xác anh em.
13 Sabuw iyab ar afu’afuw ana ofafar hi’ufunun hai ar hi’a’afuw, ofafar etei men tibi’ufunun, baise tekokok hai ar hina’afuw saise i biyah momonok isan hinao ra’ara’at.
14 Còn về phần tôi, tôi không khoe khoang, ngoại trừ khoe về thập tự giá của Chúa Cứu Thế Giê-su chúng ta. Nhờ thập tự giá đó, thế gian đã bị đóng đinh đối với tôi và tôi đối với thế gian cũng vậy.
14 Baise ayu i boro ata Regah Jesu Keriso ana onaf akisinamo isan anao ra’ara’at. Anayabin Keriso onaf afe’en momorob ana veya, ayu au naniyan iti tafaram ana bowabow isan i morob, naatu tafaram ana kok ayu isou i morob.
15 Vì cắt bì hay không cắt bì đều chẳng quan trọng gì, nhưng điều quan trọng là một con người mới.
15 Ata ar hi’a’afuw o afuwina’e tama’am nati i men ana’an gagamin, baise ana’an gagamin i ata yawas tanabotabir sabuw boubut tanamatar.
16 Nguyện xin Chúa ban bình an và lòng thương xót trên tất cả những ai noi theo quy tắc này, và trên người Y-sơ-ra-ên của Đức Chúa Trời.
16 Ayoyoyoban sabuw iyab iti ef tibi’ufunun isah tufuw, kabeber nama, na’atube God ana sabuw Israel etei isah nama.
17 Từ nay về sau, đừng ai quấy rầy tôi nữa. Vì tôi mang dấu vết của Đức Giê-su trên thân thể tôi.
17 Au tur yomanin men akokok orot babin ta yababan initu maiye, anayabin ayu biyau’umaim i Jesu ana fit tema’am, nati ebi’obaiyu ayu i Keriso ana akirwairafin.
18 Thưa anh chị em, nguyện xin Chúa Cứu Thế Giê-su chúng ta ban ân sủng trên tâm linh anh chị em. A-men.
18 Ata Regah Jesu Keriso ana bosiyasiyar kwa etei ayub wanawananamaim nama taitu. Amen.

Ler em outra tradução

Comparar com outra

Estude este capítulo no WhatsApp

Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Gálatas 6, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.