Romanos 10

Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs NTLH

Sair da comparação
NTLH Nova Tradução na Linguagem de Hoje 2000
1 Thưa anh chị em, điều tôi mong mỏi hơn hết và lời khẩn nguyện của tôi với Thượng Đế là làm sao cho người Do-thái được cứu.
1 Meus irmãos, desejo de todo o coração que o meu próprio povo seja salvo. E peço a Deus em favor deles
2 Tôi có thể nói thế nầy về họ: Họ cố gắng đi theo Thượng Đế nhưng không biết cách.
2 porque eu sou testemunha de que eles são muito dedicados a Deus. Mas a dedicação deles não está baseada no verdadeiro conhecimento,
3 Vì họ không hiểu phương cách mà Thượng Đế dùng để làm cho con người hòa thuận lại với Ngài. Họ muốn hòa thuận theo cách của họ, nên họ không chịu chấp nhận đường lối giảng hòa của Thượng Đế.
3 pois eles não conhecem a maneira como Deus aceita as pessoas e assim têm procurado conseguir isso da sua própria maneira. Eles rejeitaram o modo de Deus aceitar as pessoas.
4 Đấng Cứu Thế đã chấm dứt luật pháp, để hễ ai tin Ngài đều được hòa thuận lại với Thượng Đế.
4 Porque, com Cristo, a lei chegou ao fim, e assim os que creem é que são aceitos por Deus.
5 Mô-se cũng viết về đường lối hòa thuận với Thượng Đế bằng cách tuân giữ luật pháp như sau, “Người nào vâng theo những điều nầy thì sẽ nhờ đó mà sống.”
5 Pois o que Moisés escreveu a respeito de as pessoas serem aceitas por Deus pela obediência à lei foi isto: “Viverá aquele que fizer o que a lei manda.”
6 Nhưng đây là điều Thánh Kinh dạy về việc hòa thuận với Thượng Đế qua đức tin, “Đừng tự nhủ, ‘Ai sẽ lên thiên đàng?’” Nói thế có nghĩa là, “Ai sẽ lên thiên đàng để mang Đấng Cứu Thế xuống?”
6 Porém, quanto a ser aceito por Deus por meio da fé, Moisés diz o seguinte: “Não fique pensando assim: quem vai subir até o céu?”, isto é, para trazer Cristo do céu.
7 “Cũng đừng nói, ‘Ai xuống chốn thẳm sâu dưới đất?’” Nói thế có nghĩa là, “Ai sẽ xuống đó để đem Đấng Cứu Thế sống lại từ kẻ chết?”
7 “Nem pergunte: quem descerá ao mundo lá de baixo?”, isto é, para fazer com que Cristo suba do mundo dos mortos .
8 Nhưng đây là lời Thánh Kinh nói, “Lời rất gần ngươi, ở trong miệng và trong lòng ngươi.” Đó là lời dạy dỗ về đức tin mà chúng tôi rao giảng.
8 O que Moisés diz é isto: “A mensagem de Deus está perto de você, nos seus lábios e no seu coração” — isto é, a mensagem de fé que anunciamos.
9 Nếu miệng bạn xưng rằng “Đức Giê-xu là Chúa,” và nếu lòng bạn tin rằng Thượng Đế đã khiến Chúa Giê-xu sống lại từ kẻ chết thì bạn sẽ được cứu.
9 Se você disser com a sua boca: “Jesus é Senhor” e no seu coração crer que Deus ressuscitou Jesus, você será salvo.
10 Nhờ lòng tin mà được hòa thuận lại với Thượng Đế, còn nhờ môi miệng xác nhận mà được cứu.
10 Porque nós cremos com o coração e somos aceitos por Deus; falamos com a boca e assim somos salvos.
11 Như Thánh Kinh nói, “Hễ ai tin Ngài thì chẳng bao giờ thất vọng.”
11 Porque as Escrituras Sagradas dizem: “Quem crer nele não ficará desiludido.”
12 Thánh Kinh nói, “hễ ai” có nghĩa là tất cả mọi người, bất luận Do-thái hay không Do-thái. Chúa là Chúa của mọi người. Ngài ban phúc lành cho bất cứ ai tin nơi Ngài,
12 Isso vale para todos, pois não existe nenhuma diferença entre judeus e não judeus. Deus é o mesmo Senhor de todos e abençoa generosamente todos os que pedem a sua ajuda.
13 như Thánh Kinh nói, “Ai kêu xin Chúa giúp sẽ được cứu.”
13 Como dizem as Escrituras Sagradas: “Todos os que pedirem a ajuda do Senhor serão salvos.”
14 Nhưng trước khi kêu xin Chúa cứu giúp, thì họ phải tin Ngài đã; mà trước khi tin thì phải được nghe về Ngài. Muốn cho người ta nghe đến Ngài thì phải có người rao giảng,
14 Mas como é que as pessoas irão pedir, se não crerem nele? E como poderão crer, se não ouvirem a mensagem? E como poderão ouvir, se a mensagem não for anunciada?
15 và trước khi có người rao giảng thì phải có người được sai đi. Như có viết, “Hình ảnh của người rao Tin Mừng thật là tuyệt diệu.”
15 E como é que a mensagem será anunciada, se não forem enviados mensageiros? As Escrituras Sagradas dizem: “Como é bonito ver os mensageiros trazendo boas notícias!”
16 Không phải người Do-thái nào cũng đều chấp nhận tin mừng đâu. Nhà tiên tri Ê-sai đã nói, “Lạy Chúa, ai tin điều chúng tôi rao giảng?”
16 Mas nem todos aceitam a boa notícia do evangelho . Foi Isaías quem disse: “Senhor, quem creu na nossa mensagem?”
17 Cho nên niềm tin có được là do người ta nghe Tin Mừng, và người ta được nghe Tin Mừng là khi có người rao giảng Chúa Cứu Thế cho họ.
17 Portanto, a fé vem por ouvir a mensagem, e a mensagem vem por meio da pregação a respeito de Cristo.
18 Nhưng tôi hỏi: Có phải họ đã nghe Tin Mừng rồi sao? Phải, họ đã nghe rồi—như Thánh Kinh viết:
18 Mas eu pergunto: será que eles não ouviram a mensagem? É claro que ouviram! Como dizem as Escrituras: “A voz deles se espalhou pelo mundo inteiro; as suas palavras alcançaram a terra toda.”
19 Tôi muốn hỏi thêm: Có phải dân Ít-ra-en đã hiểu rồi sao? Phải, họ đã hiểu. Trước hết, Mô-se viết:
19 Eu pergunto ainda: será que o povo de Israel não soube disso? Moisés foi o primeiro a dar uma resposta. Ele disse: “Eu farei com que vocês fiquem com ciúmes de um povo que não é uma nação; farei com que fiquem com raiva de uma nação de gente sem juízo.”
20 Nhà tiên tri Ê-sai cũng đã nói:
20 E Isaías foi mais corajoso ao anunciar o que Deus disse: “Eu fui achado por aqueles que não me procuravam e apareci aos que não perguntavam por mim.”
21 Nhưng về dân Ít-ra-en thì Thượng Đế phán,
21 Mas, a respeito de Israel, Deus disse: “O dia inteiro eu abri os braços, pronto para receber um povo desobediente e rebelde.”

Ler em outra tradução

Comparar com outra

Estude este capítulo no WhatsApp

Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Romanos 10, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.