Romanos 10

Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI

Sair da comparação
AAI TUR GEWASIN O BAIBASIT BOUBUN
1 Thưa anh chị em, điều tôi mong mỏi hơn hết và lời khẩn nguyện của tôi với Thượng Đế là làm sao cho người Do-thái được cứu.
1 Taituwau ayu dogorou wanawanan au kok gagamin naatu au yoyoban i mi’itube ayu au sabuw Israel yawas hitab!
2 Tôi có thể nói thế nầy về họ: Họ cố gắng đi theo Thượng Đế nhưng không biết cách.
2 Anababatun a tur ao’owen Israel sabuw etei i God isan tibibobowen, baise i hai bobowen i men so’ob anababatun tafanamaim tebatabat.
3 Vì họ không hiểu phương cách mà Thượng Đế dùng để làm cho con người hòa thuận lại với Ngài. Họ muốn hòa thuận theo cách của họ, nên họ không chịu chấp nhận đường lối giảng hòa của Thượng Đế.
3 Anayabin ef mutufurin Godane enan i men hiso’ob, imih i taiyuwih hai ef tibimataren, naatu God ana ef mutufurin i bitih babanamaim men tema’am.
4 Đấng Cứu Thế đã chấm dứt luật pháp, để hễ ai tin Ngài đều được hòa thuận lại với Thượng Đế.
4 Anayabin ofafar ana tur etei Keriso sinaf in yomanin isawar, saise sabuw iyab tibitumatum etei hinan hai ef namutufor.
5 Mô-se cũng viết về đường lối hòa thuận với Thượng Đế bằng cách tuân giữ luật pháp như sau, “Người nào vâng theo những điều nầy thì sẽ nhờ đó mà sống.”
5 Moses ofafaramaim baimutufurit isan iti na’atube kubuna eo, “Orot yait Regah ana tur ebi’ufunun i boro nama.”
6 Nhưng đây là điều Thánh Kinh dạy về việc hòa thuận với Thượng Đế qua đức tin, “Đừng tự nhủ, ‘Ai sẽ lên thiên đàng?’” Nói thế có nghĩa là, “Ai sẽ lên thiên đàng để mang Đấng Cứu Thế xuống?”
6 Baise ef mutufurin, baitumatum tafanamaim bat enan i iti na’atube eo, “Men dogoromaim kwanao, ‘Yait boro au mar nayen, Keriso nab nare?’
7 “Cũng đừng nói, ‘Ai xuống chốn thẳm sâu dưới đất?’” Nói thế có nghĩa là, “Ai sẽ xuống đó để đem Đấng Cứu Thế sống lại từ kẻ chết?”
7 O yait boro inare me baban Keriso morobone inab inayen?”
8 Nhưng đây là lời Thánh Kinh nói, “Lời rất gần ngươi, ở trong miệng và trong lòng ngươi.” Đó là lời dạy dỗ về đức tin mà chúng tôi rao giảng.
8 Baise tur abisa ao i iti, God ana tur i wanawanamaim, awamaim, dogoromaim, baitumatum turaban nati i boun aki ao’orereb.
9 Nếu miệng bạn xưng rằng “Đức Giê-xu là Chúa,” và nếu lòng bạn tin rằng Thượng Đế đã khiến Chúa Giê-xu sống lại từ kẻ chết thì bạn sẽ được cứu.
9 Naatu awamaim ina’e’en Jesu i Regah naatu dogoromaim initumitum i morobone God iyawas maiye, o boro niyawasi.
10 Nhờ lòng tin mà được hòa thuận lại với Thượng Đế, còn nhờ môi miệng xác nhận mà được cứu.
10 Anayabin o dogoromaim kubitumatum isan a ef boro namutufor, naatu awamaim kue’e’en isan boro yawas inab.
11 Như Thánh Kinh nói, “Hễ ai tin Ngài thì chẳng bao giờ thất vọng.”
11 Bukamaim itit na’atube eo, “Orot yait i ebitumitum boro men biyan na’ohow.”
12 Thánh Kinh nói, “hễ ai” có nghĩa là tất cả mọi người, bất luận Do-thái hay không Do-thái. Chúa là Chúa của mọi người. Ngài ban phúc lành cho bất cứ ai tin nơi Ngài,
12 God matanamaim Jew naatu Ufun Sabuw i ta’imon men tata’amih, nati Regah ta’imon etei hai Regah. Iyab isan te’afa’af boro ana toto ana buyoy tutufin etei nigegewasinih.
13 như Thánh Kinh nói, “Ai kêu xin Chúa giúp sẽ được cứu.”
13 Anayabin, “Sabuw iyab Regah isan te’afa’af boro niyawasih.”
14 Nhưng trước khi kêu xin Chúa cứu giúp, thì họ phải tin Ngài đã; mà trước khi tin thì phải được nghe về Ngài. Muốn cho người ta nghe đến Ngài thì phải có người rao giảng,
14 Bo i men hinabitumitum boro mi’itube isan hina’af? Naatu tur men nan hinanonowar boro mi’itube hinitumatum? Naatu binanuyah men hinan hinabibinan boro mi’itube tur hinanowar?
15 và trước khi có người rao giảng thì phải có người được sai đi. Như có viết, “Hình ảnh của người rao Tin Mừng thật là tuyệt diệu.”
15 Naatu tur binanuyah men hiniyafarih hinatitit, tur boro yait nabinan? Bukamaim hikikirum na’atube, “Binanuyah God ana tur gewasin hibai hitit me hiwawastubun ana itinin i gewasin maiyow!”
16 Không phải người Do-thái nào cũng đều chấp nhận tin mừng đâu. Nhà tiên tri Ê-sai đã nói, “Lạy Chúa, ai tin điều chúng tôi rao giảng?”
16 Baise Israel sabuw turihiwat tur gewasin hinowar naatu hitumatum. Anayabin Isaiah iti na’atube eo, “Regah yait boro aki abibinan nanowar?”
17 Cho nên niềm tin có được là do người ta nghe Tin Mừng, và người ta được nghe Tin Mừng là khi có người rao giảng Chúa Cứu Thế cho họ.
17 Isan imih, baitumatum i tur tanonowar imaim emamatar, naatu tur abisa tanonowar i Keriso ana turane enan.
18 Nhưng tôi hỏi: Có phải họ đã nghe Tin Mừng rồi sao? Phải, họ đã nghe rồi—như Thánh Kinh viết:
18 Baise ayu abibat, nati sabuw tur men hinowar? En sabuw i tur hinowar” Fanah tit kamar tutufin etei bai, naatu hai tur i tit tafaram ana yomanin etei hinowar.
19 Tôi muốn hỏi thêm: Có phải dân Ít-ra-en đã hiểu rồi sao? Phải, họ đã hiểu. Trước hết, Mô-se viết:
19 Iban abibat maiye, Israel sabuw tur men naniyan hibai? Tur hinowar naatu Moses wantoro’ot eo,
20 Nhà tiên tri Ê-sai cũng đã nói:
20 Naatu Isaiah itafofor eo, “Sabuw iyab ayu men tenunuwuhu, i ayu hitita’uru; sabuw iyab ayu isou men hifefeyan i isah airerereb.”
21 Nhưng về dân Ít-ra-en thì Thượng Đế phán,
21 Baise Israel sabuw isah iti na’atube eo, “Mar manin maiyow ayu sabuw baifanasairayah naatu dogoroh fokarin isah umou abora’ah abat ao kwana kwai’ufnunu.”

Ler em outra tradução

Comparar com outra

Estude este capítulo no WhatsApp

Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Romanos 10, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.