Isaías 43
Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs VC
1 Hãy nghe lời CHÚA phán như sau: Hỡi dân Gia-cốp, Ngài dựng nên các ngươi; hỡi dân Ít-ra-en, Ngài tạo thành các ngươi. Ngài phán, “Đừng sợ vì ta đã giải cứu ngươi. Ta đã gọi đích danh ngươi, và ngươi thuộc về ta.
1 E agora, eis o que diz o Senhor, aquele que te criou, Jacó, e te formou, Israel: Nada temas, pois eu te resgato, eu te chamo pelo nome, és meu.
2 Khi ngươi đi qua nước, ta sẽ ở cùng ngươi. Khi băng qua sông, ngươi sẽ không bị chết đuối. Khi băng qua lửa, ngươi sẽ không bị cháy.
2 Se tiveres de atravessar a água, estarei contigo. E os rios não te submergirão; se caminhares pelo fogo, não te queimarás, e a chama não te consumirá.
3 Vì ta, CHÚA là Thượng Đế ngươi, ta là Đấng Thánh của Ít-ra-en, Cứu Chúa ngươi. Ta đã hi sinh Ai-cập để trả giá cho ngươi, ta đã đánh đổi Cút và Sê-ba để khiến ngươi thuộc về ta.
3 Pois eu sou o Senhor, teu Deus, o Santo de Israel, teu salvador. Dou o Egito por teu resgate, a Etiópia e Sabá em compensação.
4 Vì ngươi rất quí đối với ta, nên ta ban cho ngươi vinh dự và yêu thương ngươi, ta sẽ hi sinh các dân khác vì ngươi; ta sẽ đánh đổi các dân tộc khác để chuộc mạng sống ngươi.
4 Porque és precioso a meus olhos, porque eu te aprecio e te amo, permuto reinos por ti, entrego nações em troca de ti.
5 Đừng sợ vì ta ở với ngươi. Ta sẽ mang con cái ngươi về từ phương Đông, và gom góp các ngươi lại từ phương Tây.
5 Fica, tranqüilo, pois estou contigo, do oriente trarei tua raça, e do ocidente eu te reunirei.
6 Ta sẽ bảo phương Bắc: Hãy trả dân ta lại cho ta. Và bảo phương Nam: Đừng nhốt dân ta trong ngục thất nữa. Hãy mang các con trai ta về từ nơi xa xăm và các con gái ta từ xứ thăm thẳm.
6 Devolve-os!, direi ao setentrião e ao meio-dia: Não os retenhas! Traze meus filhos das longínquas paragens, e minhas filhas dos confins da terra;
7 Hãy trả lại dân ta cho ta, là kẻ ta đã tạo nên cho vinh hiển ta, là dân mà ta đã tạo dựng.”
7 todos aqueles que trazem meu nome, e que criei para minha glória.
8 Hãy mang ra những kẻ có mắt mà không thấy, cùng những kẻ có tai mà không nghe.
8 Fazei comparecer o povo cego apesar de ter olhos, e os surdos que têm ouvidos!
9 Các dân tộc đã nhóm họp với nhau, các dân đã quy tụ lại. Có thần nào của chúng từng tiên đoán rằng việc nầy sẽ xảy ra không? Thần nào của chúng có thể báo trước việc xảy ra từ ban đầu không? Hãy bảo các thần đó mang nhân chứng ra để cho thấy rằng là chúng đúng, thì mọi người sẽ bảo, “Quả đúng thế.”
9 Que todas as nações se congreguem e que os povos se reúnam! Quem dentre eles soube predizer o que se passa, e foi o primeiro que no-lo fez saber? Que apresentem suas testemunhas para justificar suas pretensões, que sejam ouvidas para que se possa dizer: É exato.
10 CHÚA phán, “Các ngươi là nhân chứng cho ta, là đầy tớ ta đã chọn. Ta đã chọn các ngươi để các ngươi biết và tin ta, để các ngươi hiểu rằng ta là Thượng Đế thật. Trước ta không có Thượng Đế nào, và sau ta cũng chẳng có Thượng Đế khác.
10 Vós sois minhas testemunhas, diz o Senhor, e meus servos que eu escolhi, a fim de que se reconheça e que me acreditem e que se compreenda que sou eu. Nenhum deus foi formado antes de mim, e não haverá outros depois de mim.
11 Chính ta là CHÚA. Ta là Đấng Cứu Thế duy nhất.
11 Fui eu, sou eu o Senhor, não há outro salvador a não ser eu.
12 Chính ta đã phán cùng các ngươi, giải cứu các ngươi, và cho ngươi biết các việc nầy. Chính ta chớ không phải thần lạ nào ở giữa các ngươi đâu. Các ngươi là nhân chứng cho ta, còn ta là Thượng Đế,” CHÚA phán vậy.
12 Sou eu quem predisse e salvei, e não um deus estranho entre vós. Vós sois minhas testemunhas, diz o Senhor, eu sou Deus
13 “Ta xưa nay vẫn là Thượng Đế. Không ai có thể giải cứu dân chúng khỏi quyền lực của ta; khi ta hành động, không ai có thể thay đổi được.”
13 desde toda a eternidade. Ninguém poderia escapar de minha mão; quando executo, quem poderia destruir minha obra?
14 Đây là điều CHÚA, Đấng giải cứu ngươi, Đấng Thánh của Ít-ra-en phán: “Ta sẽ phái đạo quân đến Ba-by-lôn để giải thoát các ngươi, ta sẽ phá sập mọi cổng thành khóa kín. Tiếng hân hoan của người Canh-đê sẽ biến ra tiếng thảm sầu.
14 Eis o que diz o Senhor, vosso Redentor, o Santo de Israel: Por vossa causa, envio a Babilônia, a fim de fazer cair os ferrolhos dos cárceres, e os caldeus lamentar-se-ão em altos brados.
15 Ta là CHÚA, Đấng Thánh ngươi, Tạo Hóa của Ít-ra-en, Vua ngươi.”
15 Eu sou o Senhor, vosso Santo, o criador de Israel, vosso rei.
16 Đây là điều CHÚA phán. Ngài là Đấng mở con đường băng qua biển và tạo lối đi băng qua nước ào ào.
16 Eis o que diz o Senhor que abriu uma passagem através do mar, um caminho em meio às ondas,
17 Ngài là Đấng đánh bại các quân xa cùng ngựa và các đạo quân hùng mạnh. Chúng cùng nhau ngã nhào không bao giờ ngồi dậy nữa. Chúng bị tiêu diệt như ngọn lửa tắt.
17 que pôs em campo carros e cavalos, a tropa de soldados e chefes: eles caíram então para nunca mais se levantar; Extinguiram-se como um pavio de vela.
18 CHÚA phán, “Hãy quên chuyện đã xảy ra trước kia, đừng nghĩ đến việc quá khứ.
18 Não vos lembreis mais dos acontecimentos de outrora, não recordeis mais as coisas antigas,
19 Hãy nhìn những điều mới ta sắp làm. Các ngươi không thấy sao? Việc đó đang xảy ra. Ta sẽ làm một con đường trong sa mạc và tạo ra sông ngòi trên đất khô.
19 porque eis que vou fazer obra nova, a qual já surge: não a vedes? Vou abrir uma via pelo deserto, e fazer correr arroios pela estepe.
20 Ngay đến dã thú cũng cảm tạ ta như chó rừng và chim đà điểu. Chúng sẽ tôn kính ta khi ta tạo ra nước trong sa mạc và sông chảy trên đất khô để cung cấp nước cho dân ta là những kẻ ta đã chọn.
20 Dar-me-ão glória os animais selvagens, os chacais e as avestruzes, pois terei feito jorrar água no deserto, e correr arroios na estepe, para saciar a sede de meu povo, meu eleito;
21 Dân mà ta đã tạo lập nên cho ta sẽ ca ngợi ta.
21 o povo, que formei para mim, contará meus feitos.
22 Hỡi dân cư Gia-cốp, các ngươi không hề kêu cầu ta; hỡi dân Ít-ra-en, các ngươi đã chán ta.
22 No entanto, não foste tu que me chamaste, Jacó, tu não te fatigaste por mim, Israel.
23 Các ngươi không mang sinh tế bằng chiên cho ta hay dâng của lễ để tỏ lòng tôn kính ta. Ta không đòi sinh tế để làm gánh nặng cho ngươi hay khiến ngươi chán ngấy vì phải đốt hương.
23 Não me ofereceste carneiros em holocausto, nem me honraste com sacrifícios; não cobrei de ti um pesado imposto em oblações, nem te sobrecarreguei exigindo incenso.
24 Nên các ngươi không mua hương cho ta; các ngươi không tự ý mang cho ta mỡ của sinh tế các ngươi. Nhưng tội lỗi các ngươi khiến ta mệt nhọc; ngươi làm cho ta kiệt lực vì những điều sai quấy ngươi làm.
24 Não me compraste, a preço alto, cana perfumada, nem me fartaste com a gordura das vítimas. Mas me atormentaste com teus pecados, cansaste-me com tuas iniqüidades.
25 Ta, chính ta là Đấng tha thứ mọi tội lỗi các ngươi, vì danh ta, ta sẽ không nhớ tội lỗi các ngươi nữa.
25 Sempre sou eu quem deve apagar tuas faltas, e não mais me lembrar de teus pecados.
26 Nhưng các ngươi hãy nhắc nhở ta. Hãy họp nhau lại tranh luận. Hãy thuật cho ta điều ngươi làm, hãy chứng tỏ rằng các ngươi đúng.
26 Refresca tua memória e discutamos: apresenta tuas contas, para te justificar!
27 Người cha đầu tiên của các ngươi đã phạm tội, các lãnh tụ ngươi đã chống nghịch ta.
27 Já teu primeiro pai pecou, teus representantes me ofenderam,
28 Cho nên ta sẽ khiến các lãnh tụ thánh các ngươi không còn thánh nữa. Ta sẽ hủy diệt Gia-cốp, và khiến cho Ít-ra-en bị sỉ nhục.”
28 teus príncipes profanaram meu santuário. Então entreguei Jacó ao anátema e Israel às injúrias.
Atalhos do teclado
- Capítulo anterior←
- Próximo capítulo→
- Versículo anteriork
- Próximo versículoj
- Limpar seleçãoEsc
- Esta ajuda?
Estude este capítulo no WhatsApp
Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Isaías 43, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.