Isaías 43

Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs ARA

Sair da comparação
ARA Almeida Revista e Atualizada 1993
1 Hãy nghe lời CHÚA phán như sau: Hỡi dân Gia-cốp, Ngài dựng nên các ngươi; hỡi dân Ít-ra-en, Ngài tạo thành các ngươi. Ngài phán, “Đừng sợ vì ta đã giải cứu ngươi. Ta đã gọi đích danh ngươi, và ngươi thuộc về ta.
1 Mas agora, assim diz o Senhor , que te criou, ó Jacó, e que te formou, ó Israel: Não temas, porque eu te remi; chamei-te pelo teu nome, tu és meu.
2 Khi ngươi đi qua nước, ta sẽ ở cùng ngươi. Khi băng qua sông, ngươi sẽ không bị chết đuối. Khi băng qua lửa, ngươi sẽ không bị cháy.
2 Quando passares pelas águas, eu serei contigo; quando, pelos rios, eles não te submergirão; quando passares pelo fogo, não te queimarás, nem a chama arderá em ti.
3 Vì ta, CHÚA là Thượng Đế ngươi, ta là Đấng Thánh của Ít-ra-en, Cứu Chúa ngươi. Ta đã hi sinh Ai-cập để trả giá cho ngươi, ta đã đánh đổi Cút và Sê-ba để khiến ngươi thuộc về ta.
3 Porque eu sou o Senhor , teu Deus, o Santo de Israel, o teu Salvador; dei o Egito por teu resgate e a Etiópia e Sebá, por ti.
4 Vì ngươi rất quí đối với ta, nên ta ban cho ngươi vinh dự và yêu thương ngươi, ta sẽ hi sinh các dân khác vì ngươi; ta sẽ đánh đổi các dân tộc khác để chuộc mạng sống ngươi.
4 Visto que foste precioso aos meus olhos, digno de honra, e eu te amei, darei homens por ti e os povos, pela tua vida.
5 Đừng sợ vì ta ở với ngươi. Ta sẽ mang con cái ngươi về từ phương Đông, và gom góp các ngươi lại từ phương Tây.
5 Não temas, pois, porque sou contigo; trarei a tua descendência desde o Oriente e a ajuntarei desde o Ocidente.
6 Ta sẽ bảo phương Bắc: Hãy trả dân ta lại cho ta. Và bảo phương Nam: Đừng nhốt dân ta trong ngục thất nữa. Hãy mang các con trai ta về từ nơi xa xăm và các con gái ta từ xứ thăm thẳm.
6 Direi ao Norte: entrega! E ao Sul: não retenhas! Trazei meus filhos de longe e minhas filhas, das extremidades da terra,
7 Hãy trả lại dân ta cho ta, là kẻ ta đã tạo nên cho vinh hiển ta, là dân mà ta đã tạo dựng.”
7 a todos os que são chamados pelo meu nome, e os que criei para minha glória, e que formei, e fiz.
8 Hãy mang ra những kẻ có mắt mà không thấy, cùng những kẻ có tai mà không nghe.
8 Traze o povo que, ainda que tem olhos, é cego e surdo, ainda que tem ouvidos.
9 Các dân tộc đã nhóm họp với nhau, các dân đã quy tụ lại. Có thần nào của chúng từng tiên đoán rằng việc nầy sẽ xảy ra không? Thần nào của chúng có thể báo trước việc xảy ra từ ban đầu không? Hãy bảo các thần đó mang nhân chứng ra để cho thấy rằng là chúng đúng, thì mọi người sẽ bảo, “Quả đúng thế.”
9 Todas as nações, congreguem-se; e, povos, reúnam-se; quem dentre eles pode anunciar isto e fazer-nos ouvir as predições antigas? Apresentem as suas testemunhas e por elas se justifiquem, para que se ouça e se diga: Verdade é!
10 CHÚA phán, “Các ngươi là nhân chứng cho ta, là đầy tớ ta đã chọn. Ta đã chọn các ngươi để các ngươi biết và tin ta, để các ngươi hiểu rằng ta là Thượng Đế thật. Trước ta không có Thượng Đế nào, và sau ta cũng chẳng có Thượng Đế khác.
10 Vós sois as minhas testemunhas, diz o Senhor , o meu servo a quem escolhi; para que o saibais, e me creiais, e entendais que sou eu mesmo, e que antes de mim deus nenhum se formou, e depois de mim nenhum haverá.
11 Chính ta là CHÚA. Ta là Đấng Cứu Thế duy nhất.
11 Eu, eu sou o Senhor , e fora de mim não há salvador.
12 Chính ta đã phán cùng các ngươi, giải cứu các ngươi, và cho ngươi biết các việc nầy. Chính ta chớ không phải thần lạ nào ở giữa các ngươi đâu. Các ngươi là nhân chứng cho ta, còn ta là Thượng Đế,” CHÚA phán vậy.
12 Eu anunciei salvação, realizei-a e a fiz ouvir; deus estranho não houve entre vós, pois vós sois as minhas testemunhas, diz o Senhor ; eu sou Deus.
13 “Ta xưa nay vẫn là Thượng Đế. Không ai có thể giải cứu dân chúng khỏi quyền lực của ta; khi ta hành động, không ai có thể thay đổi được.”
13 Ainda antes que houvesse dia, eu era; e nenhum há que possa livrar alguém das minhas mãos; agindo eu, quem o impedirá?
14 Đây là điều CHÚA, Đấng giải cứu ngươi, Đấng Thánh của Ít-ra-en phán: “Ta sẽ phái đạo quân đến Ba-by-lôn để giải thoát các ngươi, ta sẽ phá sập mọi cổng thành khóa kín. Tiếng hân hoan của người Canh-đê sẽ biến ra tiếng thảm sầu.
14 Assim diz o Senhor , o que vos redime, o Santo de Israel: Por amor de vós, enviarei inimigos contra a Babilônia e a todos os de lá farei embarcar como fugitivos, isto é, os caldeus, nos navios com os quais se vangloriavam.
15 Ta là CHÚA, Đấng Thánh ngươi, Tạo Hóa của Ít-ra-en, Vua ngươi.”
15 Eu sou o Senhor , o vosso Santo, o Criador de Israel, o vosso Rei.
16 Đây là điều CHÚA phán. Ngài là Đấng mở con đường băng qua biển và tạo lối đi băng qua nước ào ào.
16 Assim diz o Senhor , o que outrora preparou um caminho no mar e nas águas impetuosas, uma vereda;
17 Ngài là Đấng đánh bại các quân xa cùng ngựa và các đạo quân hùng mạnh. Chúng cùng nhau ngã nhào không bao giờ ngồi dậy nữa. Chúng bị tiêu diệt như ngọn lửa tắt.
17 o que fez sair o carro e o cavalo, o exército e a força — jazem juntamente lá e jamais se levantarão; estão extintos, apagados como uma torcida.
18 CHÚA phán, “Hãy quên chuyện đã xảy ra trước kia, đừng nghĩ đến việc quá khứ.
18 Não vos lembreis das coisas passadas, nem considereis as antigas.
19 Hãy nhìn những điều mới ta sắp làm. Các ngươi không thấy sao? Việc đó đang xảy ra. Ta sẽ làm một con đường trong sa mạc và tạo ra sông ngòi trên đất khô.
19 Eis que faço coisa nova, que está saindo à luz; porventura, não o percebeis? Eis que porei um caminho no deserto e rios, no ermo.
20 Ngay đến dã thú cũng cảm tạ ta như chó rừng và chim đà điểu. Chúng sẽ tôn kính ta khi ta tạo ra nước trong sa mạc và sông chảy trên đất khô để cung cấp nước cho dân ta là những kẻ ta đã chọn.
20 Os animais do campo me glorificarão, os chacais e os filhotes de avestruzes; porque porei águas no deserto e rios, no ermo, para dar de beber ao meu povo, ao meu escolhido,
21 Dân mà ta đã tạo lập nên cho ta sẽ ca ngợi ta.
21 ao povo que formei para mim, para celebrar o meu louvor.
22 Hỡi dân cư Gia-cốp, các ngươi không hề kêu cầu ta; hỡi dân Ít-ra-en, các ngươi đã chán ta.
22 Contudo, não me tens invocado, ó Jacó, e de mim te cansaste, ó Israel.
23 Các ngươi không mang sinh tế bằng chiên cho ta hay dâng của lễ để tỏ lòng tôn kính ta. Ta không đòi sinh tế để làm gánh nặng cho ngươi hay khiến ngươi chán ngấy vì phải đốt hương.
23 Não me trouxeste o gado miúdo dos teus holocaustos, nem me honraste com os teus sacrifícios; não te dei trabalho com ofertas de manjares, nem te cansei com incenso.
24 Nên các ngươi không mua hương cho ta; các ngươi không tự ý mang cho ta mỡ của sinh tế các ngươi. Nhưng tội lỗi các ngươi khiến ta mệt nhọc; ngươi làm cho ta kiệt lực vì những điều sai quấy ngươi làm.
24 Não me compraste por dinheiro cana aromática, nem com a gordura dos teus sacrifícios me satisfizeste, mas me deste trabalho com os teus pecados e me cansaste com as tuas iniquidades.
25 Ta, chính ta là Đấng tha thứ mọi tội lỗi các ngươi, vì danh ta, ta sẽ không nhớ tội lỗi các ngươi nữa.
25 Eu, eu mesmo, sou o que apago as tuas transgressões por amor de mim e dos teus pecados não me lembro.
26 Nhưng các ngươi hãy nhắc nhở ta. Hãy họp nhau lại tranh luận. Hãy thuật cho ta điều ngươi làm, hãy chứng tỏ rằng các ngươi đúng.
26 Desperta-me a memória; entremos juntos em juízo; apresenta as tuas razões, para que possas justificar-te.
27 Người cha đầu tiên của các ngươi đã phạm tội, các lãnh tụ ngươi đã chống nghịch ta.
27 Teu primeiro pai pecou, e os teus guias prevaricaram contra mim.
28 Cho nên ta sẽ khiến các lãnh tụ thánh các ngươi không còn thánh nữa. Ta sẽ hủy diệt Gia-cốp, và khiến cho Ít-ra-en bị sỉ nhục.”
28 Pelo que profanarei os príncipes do santuário; e entregarei Jacó à destruição e Israel, ao opróbrio.

Ler em outra tradução

Comparar com outra

Estude este capítulo no WhatsApp

Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Isaías 43, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.