Gênesis 11

Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs NAA

Sair da comparação
NAA Nova Almeida Atualizada 2017
1 Lúc đó cả thế giới chỉ có một ngôn ngữ, mọi người đều dùng một thứ tiếng mà thôi.
1 Em toda a terra havia apenas uma língua e uma só maneira de falar.
2 Khi dân chúng di cư khỏi phía đông thì họ tìm được một bình nguyên ở vùng đất Xi-na, nên định cư tại đó.
2 Os homens partiram do Oriente, encontraram uma planície na terra de Sinar e habitaram ali.
3 Họ bảo nhau, “Chúng ta hãy lấy gạch nướng thật cứng.” Nên họ dùng gạch thay cho đá, và dùng nhựa chai thay cho vôi.
3 E disseram uns aos outros: — Venham, vamos fazer tijolos e queimá-los bem. Os tijolos lhes serviram de pedra, e o betume, de argamassa.
4 Rồi họ bảo nhau, “Chúng ta hãy xây một cái thành và một cái tháp cao đến tận trời. Chúng ta sẽ làm một đài kỷ niệm cho mình. Như thế chúng ta sẽ không bị tản lạc khắp nơi trên đất nữa.”
4 Disseram: — Venham, vamos construir uma cidade e uma torre cujo topo chegue até os céus e tornemos célebre o nosso nome, para que não sejamos espalhados por toda a terra.
5 CHÚA ngự xuống thấy thành phố và tháp mà con người đã xây.
5 Então o Senhor desceu para ver a cidade e a torre, que os filhos dos homens estavam construindo.
6 Ngài bảo, “Bây giờ các dân nầy đã đoàn kết với nhau và nói cùng một ngôn ngữ. Đây chỉ là giai đoạn đầu chúng nó định làm thôi. Không có gì ngăn chặn điều chúng định làm.
6 E o Senhor disse: — Eis que o povo é um, e todos têm a mesma língua. Isto é apenas o começo; agora não haverá restrição para tudo o que planejam fazer.
7 Bây giờ chúng ta hãy xuống làm lộn xộn ngôn ngữ của chúng để chúng không còn hiểu nhau được nữa.”
7 Venham, vamos descer e confundir a língua que eles falam, para que um não entenda o que o outro está dizendo.
8 Vậy CHÚA phân tán họ khắp đất, nên họ bỏ dở việc xây thành.
8 Assim o Senhor os dispersou dali pela superfície da terra; e pararam de edificar a cidade.
9 Nơi đó được gọi là Ba-bên vì là chỗ CHÚA làm lộn xộn ngôn ngữ của cả thế gian. Thế là CHÚA làm họ tản lạc khắp nơi trên thế giới.
9 Por isso a cidade foi chamada de Babel, porque ali o Senhor confundiu a língua de toda a terra e dali o Senhor os dispersou por toda a superfície dela.
10 Đây là gia phổ của Sem. Hai năm sau trận lụt lớn, lúc Sem được 100 tuổi thì sinh A-phác-xác.
10 São estas as gerações de Sem. Ele tinha cem anos de idade quando gerou Arfaxade, dois anos depois do dilúvio.
11 Sau đó Sem sống thêm 500 năm nữa, sinh con trai con gái.
11 E, depois que gerou Arfaxade, Sem viveu quinhentos anos; e gerou filhos e filhas.
12 Khi A-phác-xác được 35 tuổi thì sinh ra Sê-la.
12 Arfaxade viveu trinta e cinco anos e gerou Salá.
13 Sau đó A-phác-xác sống thêm 403 năm nữa sinh con trai con gái.
13 E, depois que gerou Salá, Arfaxade viveu quatrocentos e três anos; e gerou filhos e filhas.
14 Khi Sê-la được 30 tuổi thì sinh Ê-be.
14 Salá viveu trinta anos e gerou Héber;
15 Sau đó Sê-la sống thêm 403 năm nữa, sinh con trai con gái.
15 e, depois que gerou Héber, Salá viveu quatrocentos e três anos; e gerou filhos e filhas.
16 Khi Ê-be được 34 tuổi thì sinh Phê-léc.
16 Héber viveu trinta e quatro anos e gerou Pelegue;
17 Sau đó Ê-be sống thêm 430 năm nữa, sinh con trai con gái.
17 e, depois que gerou Pelegue, Héber viveu quatrocentos e trinta anos; e gerou filhos e filhas.
18 Khi Phê-léc được 30 tuổi thì sinh ra Rêu.
18 Pelegue viveu trinta anos e gerou Reú;
19 Sau đó Phê-léc sống thêm 209 năm nữa, sinh con trai con gái.
19 e, depois que gerou Reú, Pelegue viveu duzentos e nove anos; e gerou filhos e filhas.
20 Khi Rêu được 32 tuổi thì sinh Sê-rúc.
20 Reú viveu trinta e dois anos e gerou Serugue;
21 Sau đó Rêu sống thêm 207 năm nữa, sinh con trai con gái.
21 e, depois que gerou Serugue, Reú viveu duzentos e sete anos; e gerou filhos e filhas.
22 Khi Sê-rúc được 30 tuổi thì sinh Na-ho.
22 Serugue viveu trinta anos e gerou Naor;
23 Sau đó Sê-rúc sống thêm 200 năm nữa, sinh con trai con gái.
23 e, depois que gerou Naor, Serugue viveu duzentos anos; e gerou filhos e filhas.
24 Khi Na-ho được 29 tuổi, sinh Thê-ra.
24 Naor viveu vinte e nove anos e gerou Tera;
25 Sau đó Na-ho sống thêm 119 năm nữa, sinh con trai con gái.
25 e, depois que gerou Tera, Naor viveu cento e dezenove anos; e gerou filhos e filhas.
26 Sau khi Thê-ra được 70 tuổi thì sinh Áp-ram, Na-ho và Ha-ran.
26 Tera viveu setenta anos e gerou Abrão, Naor e Harã.
27 Đây là gia phổ của Thê-ra. Thê-ra sinh Áp-ram, Na-ho, và Ha-ran. Ha-ran sinh ra Lót.
27 São estas as gerações de Tera. Tera gerou Abrão, Naor e Harã; e Harã gerou Ló.
28 Ha-ran qua đời trong thành U-rơ thuộc miền Ba-by-lôn, nơi sinh trưởng, trong khi cha mình hãy còn sống.
28 Harã morreu na terra de seu nascimento, em Ur dos caldeus, estando Tera, seu pai, ainda vivo.
29 Cả Áp-ram và Na-ho đều lập gia đình. Vợ Áp-ram tên Sa-rai, vợ Na-ho tên Minh-ca. Nàng là con gái Ha-ran, là người sinh ra Minh-ca và Ích-ca.
29 Abrão e Naor tomaram para si mulheres. A mulher de Abrão se chamava Sarai, e a mulher de Naor era Milca, filha de Harã, que foi pai de Milca e de Iscá.
30 Sa-rai hiếm muộn không sinh con được.
30 Sarai era estéril, não tinha filhos.
31 Thê-ra mang Áp-ram, con mình, và Lót, cháu mình, con dâu Sa-rai tức vợ của Áp-ram, di cư ra khỏi thành U-rơ, xứ Ba-by-lôn. Họ dự định đi qua xứ Ca-na-an, nhưng đi đến thành Ha-ran thì định cư tại đó.
31 Tera tomou Abrão, seu filho, e Ló, filho de Harã, filho de seu filho, e Sarai, sua nora, mulher de seu filho Abrão, e saiu com eles de Ur dos caldeus, para ir à terra de Canaã. Foram até Harã, onde ficaram.
32 Thê-ra hưởng thọ 205 tuổi rồi qua đời tại Ha-ran.
32 E, havendo Tera vivido duzentos e cinco anos ao todo, morreu em Harã.

Ler em outra tradução

Comparar com outra

Estude este capítulo no WhatsApp

Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Gênesis 11, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.