Mateus 5
New Vietnamese Bible (VIETNVB) vs AAI
1 Thấy đám đông, Đức Giê-su đi lên núi. Khi Ngài đã ngồi xuống, các môn đệ đến gần,
1 Jesu sabuw rou’ay gagamin maiyow hinan itih, basit heher yen in koun yan mare ana bai’ufununayah hina sisibinamaim himarir.
2 Ngài bắt đầu dạy dỗ họ:
2 Naatu busuruf i’obaibiyih eo, Jesu Oyaw tafan ma ebi’obiyih|alt="sermon on mount" src="CN01700B.TIF" size="col" loc="Mat 5.2" copy="©1978 David C. Cook Publishing Co." ref="5.2"
3 “Phước cho người nghèo khổ trong tâm linh,Vì Nước Thiên Đàng thuộc về họ.
3 “Sabuw iyab ayubih ana’amorob tebaib boro baigegewasin hinab, anayabin mar ana aiwob boro ninowah hinab.
4 Phước cho người than khóc,Vì sẽ được an ủi.
4 Sabuw iyab hiyababan tererey God boro ni’afutih baigegewasin nitih.
5 Phước cho người khiêm nhu,Vì sẽ được thừa hưởng đất.
5 Sabuw iyab taiyuwih teyayara’iyih boro baigegewasin hinab, anayabin me tafaram boro ninowah hinab.
6 Phước cho người đói khát sự công chính,Vì sẽ được no đủ.
6 Sabuw iyab gewasin sinaf isan hi’amorob sikah emamamah boro baigegewasin hinab, anayabin God boro nitih hinab nasusuwih.
7 Phước cho người đầy lòng thương,Vì sẽ được thương xót.
7 Sabuw iyab tekakabeber boro baigegewasin hinab, anayabin God boro nakabibirih.
8 Phước cho người có lòng trong sạch,Vì sẽ thấy Đức Chúa Trời.
8 Sabuw iyab dogoroh uhew boro baigegewasin hinab, anayabin God boro hina’itin.
9 Phước cho người hòa giải,Vì sẽ được gọi là con cái Đức Chúa Trời.
9 Sabuw iyab tufuw ma gewas isan tebowabow boro baigegewasin hinab, anayabin God boro natunatumih nabuwih.
10 Phước cho người vì sự công chính mà bị bắt bớ,Vì Nước Thiên Đàng thuộc về họ.
10 Sabuw iyab gewasin tisisinaf isan hirouw tibi’a’akirih boro baigegewasin hinab, anayabin mar ana aiwob boro hinab.
11 Phước cho các con khi bị người ta mắng nhiếc, ngược đãi và vu cáo đủ điều ác vì cớ Ta.
11 “Kwabi’ufununu isan sabuw boro tur kakafin hina’uwi, hinarabi hini’a’a’akiri naatu baifuwenamaim tur kakafih maiyow hina’u’uwi isan, baigegewasin boro kwanab.
12 Hãy hân hoan, mừng rỡ, các con sẽ được trọng thưởng ở trên trời vì người ta cũng đã bắt bớ các tiên tri của Chúa trước các con như thế.”
12 Kwaniyasisir naatu kwanakawasa, anayabin a siwar gagamin na’in auyom maramaim inu’in boro kwanab. Ef ta’imon nati na’atube marasika dinab oro’orot hirouw hi’a’a’akirih.
13 “Các con là muối của đất, nhưng nếu muối mất chất mặn đi, thì lấy gì làm cho mặn lại? Muối ấy thành vô vị, chỉ còn bỏ đi và bị người ta giẫm dưới chân.
13 “Kwa i riy na’atube sabuw etei isah. Baise riy naniyan nabi’en na’at boro men karam hiniwa’an naniyan namatar maiye’emih, naatu sawar isan ana gewasin boro men ta nama, imih boro hinisaroun haw nare, sabuw tafan hinawas kamakamar hinaremor.
14 Các con là ánh sáng của thế gian. Một thành xây trên ngọn đồi sẽ không bị che khuất.
14 “Kwa i tafaram ana marakaw. Bar merar gagamin oyaw wan hiwowab ebatabat boro men karam hinibun wa’irimih.
15 Không ai thắp đèn rồi đặt trong thùng nhưng đặt trên chân đèn để soi sáng mọi người trong nhà.
15 Na’atube orot babin men ta ramef ito’ab noukwat wanawanan tarafut inumih. Baise ana sisikofamaim boro nasikof bar wanawanan etei namarakaw kawin hinama.
16 Vậy, hãy chiếu ánh sáng của các con trước mặt thiên hạ như thế, để họ thấy các công việc tốt đẹp của các con mà tôn vinh Cha các con ở trên trời.”
16 Ef ta’imon nati na’atube a marakaw sabuw etei matahimaim kwanabotawiy, saise abisa gewasin kwabowabow hina’itin naatu Tamat maramaim wabin hinabora’ara’ah.
17 “Đừng nghĩ rằng Ta đến để hủy bỏ Kinh Luật và Kinh Tiên Tri; Ta đến không phải để hủy bỏ mà để hoàn thành.
17 “Ayu anan men kwananot Moses ana ofafar naatu dinab oro’orot hai bai’obaiyen baihamiyen isan ao’omih. Ayu men i kouseiren isan anamih, baise sinaf yabih matar isan.
18 Vì thật, Ta bảo các con: Cho đến khi trời đất qua đi thì một chấm, một nét trong Kinh Luật cũng không qua đi cho đến chừng tất cả được thành tựu.
18 Anababatun a tur a’owen, mar tafaram ema’am wanawananamaim kirum kikimin maiyow hikikirum, naatu pen wanamaim abisa hikukuyowan boro men ta anakusairimih, baise etei boro anasinaf yabih hinamatar.
19 Vì thế nếu ai hủy bỏ một điều nhỏ nhất trong các điều răn nầy và dạy người ta làm như thế, người ấy sẽ là nhỏ nhất trong Nước Thiên Đàng. Nhưng hễ ai làm theo những điều răn ấy và dạy người khác làm nữa, sẽ được kể là lớn trong Nước Thiên Đàng.
19 Orot yait ofafar kikimin maiyow itin yabin en rouw eastu’ub naatu sabuw afa i’obaiyih nati na’atube tisisinaf, mar ana aiwobomaim ibo boro hina’itfuruw, anayabin en hinarouw hinao, baise orot yait iti ofafar ia’ait naatu sabuw afa ebi’obaiyih mar ana aiwobomaim i boro orot gagamin.
20 Vì Ta nói cho các con biết: Nếu sự công chính của các con không hơn sự công chính của các chuyên gia kinh luật và người Pha-ri-si, thì các con không thể vào Nước Thiên Đàng được.”
20 A tur ao’owen o yait abosunusunub nara’at Pharisee naatu Ofafar Bai’obaiyenayah inananatabirih na’at, o i nuhinafot mar ana aiwobomaim i kurur.
21 “Các con nghe lời dạy cho người xưa rằng: ‘Chớ giết người. Ai giết người sẽ bị trừng phạt.’
21 “Tur marasika hio uwatanah hinonowar i hio kwanowar, men sabuw kwana’asbunuw, naatu orot yait sabuw ea’asbunuwih boro ofafar nafatum hinibatiy.
22 Nhưng Ta bảo các con: ‘Ai giận anh em mình, người ấy đáng bị trừng phạt. Ai mắng anh em mình là ngu xuẩn, người ấy đáng bị đưa ra tòa. Ai mắng anh em mình là điên khùng người ấy đáng bị ném vào lửa hỏa ngục.’
22 Baise boun i a tur ao’owen, orot yait taintuwan isan yan nasoso’ar boro ofafar nafatum hinibatiy, naatu orot yait taintuwan isan fudirin en narouw nao’o, i boro kaniser hinibatiy. Baise orot yait taintuwan na’oraraf anayabin en nao, nati orot i enan kakafin ana wairaf wan nayenamih.
23 Cho nên khi con dâng lễ vật trên bàn thờ mà nhớ lại rằng một anh em con có điều gì bất bình cùng con,
23 “Isan imih gem kakafiyin tafamaim o a siwar ya’inamih ibai kuyey, naatu nati’imaim o nuhi nataseb, tai ta o isa i yan esoso’ar.
24 hãy để lễ vật ở trước bàn thờ, đi giải hòa cùng anh em mình trước đã, và hãy trở lại dâng lễ vật.
24 Basit a siwar nati gem tafanamaim inihamiy na’in, o inamatabir maiye inan tai airi kwanao gewas uma kwanabow kwanitonuw, imaibo inamatabir inan a siwar God initin.
25 Hãy sớm thỏa thuận với người kiện cáo mình ngay khi còn trên đường đi với họ, kẻo đối phương nộp con trước tòa, quan tòa trao cho người dưới quyền tống giam con.
25 “Ofafar ta ina’astu’ub taituwa baibatiyihimih nabuwi kwanan, airi kwanao gewas kwanitonuw, veya kikimin nama’am na’at, imaibo inan baibatiyenamaim inarun, anayabin nati’imaim tura boro nabuwi baibatiyenayan orot gagamin umanamaim naya’i, naatu baibatiyenayan orot boro nabuwi furisiman nitih hinabuwi kwanan dibur bar hinayaruyi.
26 Thật, Ta bảo con, con không ra khỏi ngục cho đến khi trả hết đồng bạc cuối cùng.”
26 Anababatun a tur ao’owen, nati’imaim o boro inama kabay hio na’atube inatubuni, imaibo boro hinabotait inatit.
27 “Các con đã nghe lời dạy rằng: ‘Chớ ngoại tình.’
27 “Tur hio uwatanah hibi’obaibiy i hio kwanowar, turanah a’aawah ufuh men kwanan.
28 Còn Ta dạy các con rằng: ‘Hễ ai nhìn đàn bà với lòng tham muốn người ấy đã ngoại tình trong lòng rồi.
28 Naatu boun a tur ao’owen orot yait matanawat nuw babin itin ana notamaim hairi baiwa’anamih enotanot ana notamaim hairi hiwa’anaka.
29 Nếu con mắt bên phải gây cho con phạm tội, hãy móc mắt ấy ném xa khỏi con, vì thà một phần thân thể bị hủy hoại hơn là cả thân thể bị ném xuống hỏa ngục.
29 Imih o mata asukwafune nuw kwaneyan, o in bowabow kakafin kusisinaf, kukubai kwisaroun, men basit mata ta’imon ana kakafinamaim o biya etei tan wairaf wan tayen ta’arah.
30 Nếu tay phải gây cho con phạm tội, hãy chặt bỏ đi, vì thà một phần thân thể bị hủy hoại còn hơn là toàn thân đi vào hỏa ngục.’”
30 Na’atube uma asukwafune eof kwaneyan, ku’afuw kwisaroun men basit uma ta’imon ana of kwanekwanemaim o biya etei tan wairaf wan tayen ta’arah.
31 “Cũng có lời dạy: ‘Ai muốn bỏ vợ hãy cho nàng một giấy ly dị.’
31 “Moses ana ofafaramaim eo, ‘Orot yait aawan nakwakwahir gewasin kwahikwahiren ana fef nakirum babin nitin nab auman nan.’
32 Nhưng Ta bảo các con: Ngoại trừ trường hợp gian dâm, ai bỏ vợ là làm cho nàng trở nên người ngoại tình; còn ai cưới người bị ly dị, thì cũng phạm tội ngoại tình.”
32 Baise boun i a tur ao’owen, orot yait nibobowen aawan nakwahir nan orot ta ni’awan, hairi hinabiwa’an i men babin ana ubar, baise orot ana ubar anayabin i kok imih babin esisinaf, naatu orot yait nati babin bai bi’awan auman bowabow kakafin esisinaf.
33 “Các con cũng nghe lời dạy cho người xưa rằng: ‘Đừng bội lời thề, nhưng hãy hoàn thành lời hứa nguyện của con với Chúa.’
33 “Tur marasika hio uwatanah hinonowar i hio kwanowar, ‘A omatanen men kwana’astu’ub, baise sinafumih God kwao’omatan i kwanasinaf.’
34 Nhưng Ta bảo các con: ‘Đừng thề gì cả. Đừng chỉ trời mà thề, vì là ngai của Đức Chúa Trời.
34 Baise boun i a tur ao’owen, God wabinamaim men asir kwanao kwanifaro’omih, na’atube auyom mar isan, anayabin nati i God ana ma’ama efan.
35 Đừng chỉ đất mà thề, vì là bệ chân của Ngài. Đừng chỉ Giê-ru-sa-lem mà thề, vì là kinh thành của Vua lớn.
35 Me yan auman men isan kwanifaro, anayabin nati i God an ana baibiyarir efan, Jerusalem auman, anayabin nati i ata aiwob gagamin God ana tafaram.
36 Đừng chỉ đầu con mà thề, vì con không thể làm cho một sợi tóc thành trắng hay đen được.
36 Naatu o taiyuw auman men arib isan inao baifaro’omih, anayabin o men karam boro arib ta inab inau nikwes o nafurum.
37 Nhưng phải thì nói phải, không thì nói không, thêm bớt bất cứ điều gì đều từ quỷ mà đến.’”
37 Imih inakwahir o inarufut, anayabin abisa awamaim iya’abar i’o etitit i Demon Kakafin biyanane enan.
38 “Các con nghe lời dạy rằng: ‘Mắt đền mắt, răng đền răng.’
38 “Marasika ana tur hio kwanowar, ‘Orot yait mata nakubai, ibo matan kukubai, naatu orot yait wa nimarir, ibo wan kwimarir.’
39 Nhưng Ta bảo các con: ‘Đừng chống cự kẻ ác. Nếu ai vả má bên phải, hãy đưa luôn má bên kia cho họ.
39 Baise boun i a tur ao’owen, orot yait isa nasisinaf kakaf men wan inay, rebareb rounane nifafar inatatabir rounane’ebo nifafar.
40 Nếu ai muốn kiện con để lấy áo trong, hãy để họ lấy luôn áo ngoài.
40 Naatu orot yait niyaso’ar baibatiyimih nabuwi kwananan, a biya baibiyon baban nikiya’ub nabaib, a biya baibiyon tafan auman inikiya’ub initin.
41 Nếu ai bắt con đi một dặm, hãy đi với họ hai dặm.
41 Baiyowayan orot ta nan nakwarari ana hafoy abarin veya ta’imon airi namih nao, ina’abar veya rou’ab airi kwanan.
42 Ai xin hãy cho; ai muốn mượn gì, đừng từ chối.’”
42 Orot babin ta isa sawaramih nafefeyani kwitin, naatu orot babin ta a sawar bai na mar kafai imaim bowamih nao, kwitin ebai en.
43 “Các con có nghe lời dạy: ‘Hãy thương người láng giềng và ghét kẻ thù địch.’
43 “Marasika ana tur hio a’a’agir hinonowar i hio kwanowar, ‘Taituwa kwaniyabuwih naatu a kamabiy sabuw kwanimat gigigirih.’
44 Nhưng Ta bảo các con: ‘Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho kẻ bắt bớ các con,
44 Baise boun a tur ao’owen, a kamabiy sabuw kwaniyabuwih naatu sabuw iyab terurukoukuwi isah kwanayoyoban.
45 để các con trở nên con cái của Cha các con trên trời, vì Ngài cho mặt trời soi trên kẻ ác cũng như người thiện và ban mưa cho người công chính cũng như kẻ bất chính.
45 Saise kwa boro Tamat auyom maramaim natunatumih nabuwi, anayabin God sinaf sabuw gewasih kakafih etei tafahimaim veya erararan, sabuw iyab gewasin tisisinaf naatu kakafin tisisinaf etei God taun ebitih.
46 Nếu các con chỉ thương người thương mình, các con có gì đáng thưởng đâu. Ngay cả người thu thuế cũng chẳng làm như thế sao?
46 Sabuw kabay o’onayah tisisinaf na’atube kwanasinaf sabuw iyabowat isa tibiyabowawat isah kwanabiyabow, God boro men ana siwar gewasin ta nitimih.
47 Nếu các con chỉ chào đón anh em mình mà thôi, thì có gì hơn ai đâu, những người ngoại đạo cũng chẳng làm như thế sao?
47 Naatu Eteni Sabuw taih tuwah akisih hai merar tiyiy na’atube kwanasinaf taituwa akisih hai merar kwanayiyi, ana gewasin boro men kwanabaimih.
48 Thế thì, các con hãy toàn hảo, như Cha các con ở trên trời là Đấng toàn hảo.’”
48 A yawas uhew bitan kwanama, Tamat auyom maramaim ana yawas uhew bitan ema’am na’atube.
Atalhos do teclado
- Capítulo anterior←
- Próximo capítulo→
- Versículo anteriork
- Próximo versículoj
- Limpar seleçãoEsc
- Esta ajuda?
Estude este capítulo no WhatsApp
Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Mateus 5, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.