Lucas 5

New Vietnamese Bible (VIETNVB) vs ARC

Sair da comparação
ARC Almeida Revista e Corrigida 2009
1 Một lần nọ, Đức Giê-su đang đứng bên bờ hồ Ghê-nê-sa-rết, trong khi đoàn dân chen lấn quanh Ngài để nghe Lời Đức Chúa Trời,
1 E aconteceu que, apertando-o a multidão para ouvir a palavra de Deus, estava ele junto ao lago de Genesaré.
2 Ngài thấy hai chiếc thuyền đậu gần bờ, nhưng các ngư phủ đã rời thuyền đi giặt lưới.
2 E viu estar dois barcos junto à praia do lago; e os pescadores, havendo descido deles, estavam lavando as redes.
3 Ngài lên một chiếc thuyền của Si-môn và bảo ông chèo ra khỏi bờ một chút. Ngài ngồi trên thuyền, và dạy dỗ dân chúng.
3 E, entrando num dos barcos, que era o de Simão, pediu-lhe que o afastasse um pouco da terra; e, assentando-se, ensinava do barco a multidão.
4 Dạy xong, Ngài bảo Si-môn: “Hãy chèo ra ngoài sâu, thả lưới kéo một mẻ cá!”
4 E, quando acabou de falar, disse a Simão: faze-te ao mar alto, e lançai as vossas redes para pescar.
5 Si-môn đáp: “Thưa Thầy, chúng con đã nhọc nhằn suốt đêm mà không bắt được gì, nhưng theo lời Thầy, con sẽ bủa lưới!”
5 E, respondendo Simão, disse-lhe: Mestre, havendo trabalhado toda a noite, nada apanhamos; mas, porque mandas, lançarei a rede.
6 Họ thả lưới xuống, bắt được nhiều cá đến nỗi lưới sắp rách.
6 E, fazendo assim, colheram uma grande quantidade de peixes, e rompia-se-lhes a rede.
7 Vậy, họ ra dấu gọi bạn chài trên thuyền khác đến giúp. Các người kia đến chất cá đầy hai thuyền, đến nỗi gần chìm.
7 E fizeram sinal aos companheiros que estavam no outro barco, para que os fossem ajudar. E foram e encheram ambos os barcos, de maneira tal que quase iam a pique.
8 Thấy thế, Si-môn Phê-rơ quỳ xuống dưới chân Đức Giê-su mà thưa: “Lạy Chúa, xin lìa khỏi con, vì con là người tội lỗi!”
8 E, vendo isso Simão Pedro, prostrou-se aos pés de Jesus, dizendo: Senhor, ausenta-te de mim, por que sou um homem pecador.
9 Vì ông và các bạn chài đều kinh hãi về mẻ lưới họ vừa kéo lên,
9 Pois que o espanto se apoderara dele e de todos os que com ele estavam, por causa da pesca que haviam feito,
10 cả Gia-cơ và Giăng, con Xê-bê-đê là đồng bạn của Phê-rơ cũng vậy. Đức Giê-su bèn bảo Si-môn: “Con đừng sợ, từ nay trở đi, con sẽ cứu vớt người!”
10 e, de igual modo, também de Tiago e João, filhos de Zebedeu, que eram companheiros de Simão. E disse Jesus a Simão: Não temas; de agora em diante, serás pescador de homens.
11 Họ kéo thuyền lên bờ, rồi bỏ tất cả mà theo Ngài.
11 E, levando os barcos para terra, deixaram tudo e o seguiram.
12 Khi Đức Giê-su vào một thành kia, Ngài gặp một người đàn ông bị phung đầy mình. Vừa thấy Ngài, anh sấp mặt xuống đất, van xin: “Lạy Chúa, nếu Ngài muốn, Ngài có thể chữa sạch bệnh con!”
12 E aconteceu que, quando estava em uma daquelas cidades, eis que um homem cheio de lepra, vendo a Jesus, prostrou-se sobre o rosto e rogou-lhe, dizendo: Senhor, se quiseres, bem podes limpar-me.
13 Ngài đưa tay sờ anh, bảo: “Được, hãy sạch đi!” Lập tức bệnh phung biến mất.
13 E ele, estendendo a mão, tocou-lhe, dizendo: Quero; sê limpo. E logo a lepra desapareceu dele.
14 Ngài căn dặn anh đừng nói cho ai biết, nhưng hãy trình diện thầy tế lễ và dâng tế lễ về việc chữa sạch như Môi-se đã truyền, để làm bằng chứng cho họ.
14 E ordenou-lhe que a ninguém o dissesse. Mas disse-lhe: Vai, mostra-te ao sacerdote e oferece, pela tua purificação, o que Moisés determinou, para que lhes sirva de testemunho.
15 Tuy nhiên, tin tức về Ngài lại càng được đồn rộng đến nỗi nhiều đoàn dân đông kéo đến nghe Ngài và để được Ngài chữa lành.
15 Porém a sua fama se propagava ainda mais, e ajuntava-se muita gente para o ouvir e para ser por ele curada das suas enfermidades.
16 Nhưng Ngài lui vào những nơi thanh vắng mà cầu nguyện.
16 Porém ele retirava-se para os desertos e ali orava.
17 Một hôm, Đức Giê-su đang dạy dỗ, người Pha-ri-si và giáo sư kinh luật từ các làng mạc Ga-li-lê, Giu-đê và thành Giê-ru-sa-lem đều có mặt. Quyền năng của Chúa ở trong Ngài để chữa bệnh.
17 E aconteceu que, em um daqueles dias, estava ensinando, e estavam ali assentados fariseus e doutores da lei que tinham vindo de todas as aldeias da Galileia, e da Judeia, e de Jerusalém. E a virtude do Senhor estava com ele para curar.
18 Bấy giờ, người ta khiêng một người bại liệt nằm trên chõng và tìm cách đem vào trong nhà để đặt trước mặt Ngài.
18 E eis que uns homens transportaram numa cama um homem que estava paralítico e procuravam fazê-lo entrar e pô-lo diante dele.
19 Nhưng vì đoàn dân đông đảo, không cách nào đem người bại vào được, nên họ leo lên mái, dỡ ngói, dòng người bại nằm trên chõng xuống giữa đám đông, ngay trước mặt Đức Giê-su.
19 E, não achando por onde o pudessem levar, por causa da multidão, subiram ao telhado e, por entre as telhas, o baixaram com a cama até ao meio, diante de Jesus.
20 Ngài thấy đức tin của họ, nên bảo: “Này con, tội lỗi con đã được tha rồi!”
20 E, vendo-lhes a fé, Jesus disse ao paralítico: Homem, os teus pecados te são perdoados.
21 Các chuyên gia kinh luật và người Pha-ri-si bắt đầu suy luận: “Người này là ai mà dám nói phạm thượng thế? Ngoài Đức Chúa Trời, còn ai có quyền tha tội.”
21 E os escribas e os fariseus começaram a arrazoar, dizendo: Quem é este que diz blasfêmias? Quem pode perdoar pecados, senão Deus?
22 Nhưng Đức Giê-su biết sự suy luận trong tâm trí họ nên hỏi: “Tại sao các người suy luận trong lòng như thế?
22 Jesus, porém, conhecendo os seus pensamentos, respondeu e disse-lhes: Que arrazoais em vosso coração?
23 Bảo rằng: ‘Tội lỗi con đã được tha’ hoặc là: ‘Hãy đứng dậy mà đi?’ điều nào dễ hơn?
23 Qual é mais fácil? Dizer: Os teus pecados te são perdoados, ou dizer: Levanta-te e anda?
24 Nhưng để các người biết trên cõi đời này, Con Người có quyền tha tội.” Ngài bảo người bại: “Ta bảo con, hãy đứng dậy, vác chõng đi về nhà!”
24 Ora, para que saibais que o Filho do Homem tem sobre a terra poder de perdoar pecados (disse ao paralítico), eu te digo: Levanta-te, toma a tua cama e vai para tua casa.
25 Lập tức, người bại đứng dậy trước mặt họ, vác chõng mình đi về nhà, tôn vinh Đức Chúa Trời.
25 E, levantando-se logo diante deles e tomando a cama em que estava deitado, foi para sua casa glorificando a Deus.
26 Mọi người cũng đều kinh ngạc và tôn vinh Đức Chúa Trời. Lòng họ đầy sợ hãi và nói: “Hôm nay, chúng ta đã thấy những việc diệu kỳ!”
26 E todos ficaram maravilhados, e glorificaram a Deus, e ficaram cheios de temor, dizendo: Hoje, vimos prodígios.
27 Sau đó, Đức Giê-su đi ra, thấy một người thu thuế tên Lê-vi đang ngồi tại trạm thu thuế, Ngài bảo: “Hãy theo Ta!”
27 E, depois disso, saiu, e viu um publicano, chamado Levi, assentado na recebedoria, e disse-lhe: Segue-me.
28 Ông đứng dậy, bỏ tất cả, đi theo Ngài.
28 E ele, deixando tudo, levantou-se e o seguiu.
29 Lê-vi dọn một tiệc lớn đãi Ngài tại nhà mình. Có một đám đông gồm nhiều người thu thuế và những người khác cùng dự tiệc.
29 E fez-lhe Levi um grande banquete em sua casa; e havia ali uma multidão de publicanos e outros que estavam com eles à mesa.
30 Các người Pha-ri-si và các chuyên gia kinh luật phàn nàn với các môn đệ Ngài: “Tại sao các anh ăn uống với bọn thu thuế và kẻ tội lỗi?”
30 E os escribas deles e os fariseus murmuravam contra os seus discípulos, dizendo: Por que comeis e bebeis com publicanos e pecadores?
31 Đức Giê-su đáp: “Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, nhưng người đau yếu mới cần.
31 E Jesus, respondendo, disse-lhes: Não necessitam de médico os que estão sãos, mas sim os que estão enfermos.
32 Ta không đến để kêu gọi người công chính, nhưng để kêu gọi những người tội lỗi ăn năn.”
32 Eu não vim chamar os justos, mas sim os pecadores, ao arrependimento.
33 Họ hỏi Ngài: “Các môn đệ Giăng cũng như các môn đệ người Pha-ri-si thường kiêng ăn cầu nguyện, nhưng các môn đệ Thầy lại ăn uống như thường!”
33 Disseram-lhe, então, eles: Por que jejuam muitas vezes os discípulos de João e fazem orações, como também os dos fariseus, mas os teus comem e bebem?
34 Đức Giê-su đáp: “Các người có thể bắt các chàng phụ rể kiêng ăn khi chàng rể còn ở với họ không?
34 E ele lhes disse: Podeis vós fazer jejuar os convidados das bodas, enquanto o esposo está com eles?
35 Khi nào chàng rể bị đem đi khỏi, lúc bấy giờ họ mới kiêng ăn.”
35 Dias virão, porém, em que o esposo lhes será tirado,
36 Ngài cũng kể ngụ ngôn này cho họ nghe: “Không ai xé vải áo mới vá vào áo cũ. Làm như thế sẽ rách áo mới, mà miếng vải mới cũng không hợp với áo cũ.
36 E disse-lhes também uma parábola: Ninguém tira um pedaço de uma veste nova para o coser em veste velha, pois que romperá a nova, e o remendo não condiz com a veste velha.
37 Cũng không ai đổ rượu mới vào bầu da cũ. Như thế, rượu mới sẽ làm nứt bầu cũ, rượu chảy hết mà bầu cũ cũng hư luôn,
37 E ninguém põe vinho novo em odres velhos; de outra sorte, o vinho novo romperá os odres e entornar-se-á o vinho, e os odres se estragarão.
38 nhưng rượu mới phải đổ vào bầu mới.
38 Mas o vinho novo deve ser posto em odres novos, e ambos juntamente se conservarão.
39 Không ai đã uống rượu cũ lại đòi rượu mới, vì người nói rằng: ‘Rượu cũ ngon hơn!’”
39 E ninguém, tendo bebido o velho, quer logo o novo, porque diz: Melhor é o velho.

Ler em outra tradução

Comparar com outra

Estude este capítulo no WhatsApp

Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Lucas 5, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.