Lucas 18

New Vietnamese Bible (VIETNVB) vs NTLH

Sair da comparação
NTLH Nova Tradução na Linguagem de Hoje 2000
1 Đức Giê-su kể cho các môn đệ một ngụ ngôn để dạy họ phải cầu nguyện luôn và đừng mỏi mệt.
1 Jesus contou a seguinte parábola , mostrando aos discípulos que deviam orar sempre e nunca desanimar:
2 Ngài nói: “Trong thành phố kia, có một thẩm phán không kính sợ Đức Chúa Trời, cũng chẳng kiêng nể loài người.
2 — Em certa cidade havia um juiz que não
3 Ở đó cũng có một bà góa cứ đến nài nỉ với ông: ‘Xin ngài xét xử công minh cho tôi đối lại kẻ chống nghịch tôi!’
3 Nessa cidade morava uma viúva que sempre o procurava para pedir justiça, dizendo: “Ajude-me e julgue o meu caso contra o meu adversário!”
4 Thẩm phán từ khước đã lâu. Sau đó, ông tự nhủ: ‘Dù ta không sợ Đức Chúa Trời cũng chẳng nể loài người,
4 — Durante muito tempo o juiz não quis julgar o caso da viúva, mas afinal pensou assim: “É verdade que eu não temo a Deus e também não respeito ninguém.
5 nhưng vì mụ góa này quấy rầy ta, nên ta sẽ xét xử công minh cho mụ, kẻo mụ cứ trở lại mãi, thì rốt cuộc ta cũng bị bực mình!’”
5 Porém, como esta viúva continua me aborrecendo, vou dar a sentença a favor dela. Se eu não fizer isso, ela não vai parar de vir me amolar até acabar comigo.”
6 Chúa bảo: “Các con hãy nghe lời thẩm phán bất lương ấy nói!
6 E o Senhor continuou:
7 Lẽ nào Đức Chúa Trời lại không xét xử công minh cho những kẻ được Ngài chọn, là những kẻ ngày đêm kêu xin Ngài mà Ngài còn trì hoãn hay sao?
7 Será, então, que Deus não vai fazer justiça a favor do seu próprio povo, que grita por socorro dia e noite? Será que ele vai demorar para ajudá-lo?
8 Ta bảo các con: Ngài sẽ nhanh chóng xét xử công minh cho họ. Tuy nhiên, khi Con Người trở lại, Ngài sẽ còn tìm thấy đức tin như thế trên mặt đất không?”
8 Eu afirmo a vocês que ele julgará a favor do seu povo e fará isso bem depressa. Mas, quando o
9 Đức Giê-su kể ngụ ngôn này về những kẻ tự cho mình là công chính rồi cậy mình mà khinh dể người khác:
9 Jesus também contou esta parábola para os que achavam que eram muito bons e desprezavam os outros:
10 “Có hai người lên đền thờ cầu nguyện, một người Pha-ri-si và một người thu thuế.
10 — Dois homens foram ao Templo para orar. Um era
11 Người Pha-ri-si đứng cầu nguyện như vầy: ‘Lạy Đức Chúa Trời, tôi tạ ơn Ngài vì tôi đây không phải như bọn người phàm, tham ô, bất lương, gian dâm, hoặc như tên thu thuế này.
11 O fariseu ficou de pé e orou sozinho, assim: “Ó Deus, eu te agradeço porque não sou avarento, nem desonesto, nem imoral como as outras pessoas. Agradeço-te também porque não sou como este cobrador de impostos.
12 Tôi kiêng ăn mỗi tuần lễ hai lần. Tôi dâng phần mười tất cả các lợi tức.’
12 Jejuo duas vezes por semana e te dou a décima parte de tudo o que ganho.”
13 Nhưng người thu thuế đứng đàng xa, không dám ngước mắt lên trời, đấm ngực mà thưa: ‘Lạy Đức Chúa Trời, xin thương xót con là kẻ tội lỗi!’
13 — Mas o cobrador de impostos ficou de longe e nem levantava o rosto para o céu. Batia no peito e dizia: “Ó Deus, tem pena de mim, pois sou pecador!”
14 Ta bảo các con, người này về nhà được kể là công chính chứ không phải người kia. Vì ai tự tôn cao sẽ bị hạ xuống, còn ai tự hạ mình xuống sẽ được tôn cao.”
14 E Jesus terminou, dizendo:
15 Người ta đem trẻ em đến với Đức Giê-su để Ngài đặt tay ban phước. Các môn đệ thấy thế, quở trách họ.
15 Depois disso, algumas pessoas levaram as suas crianças a Jesus para que ele as abençoasse, mas os discípulos viram isso e repreenderam aquelas pessoas.
16 Nhưng Đức Giê-su gọi chúng đến bảo: “Hãy để trẻ thơ đến cùng Ta, đừng ngăn cấm chúng nó; vì Nước Đức Chúa Trời thuộc về những người giống như chúng vậy.
16 Então Jesus chamou as crianças para perto de si e disse:
17 Thật Ta bảo cho các con biết: Ai không tiếp nhận Nước Đức Chúa Trời như trẻ thơ thì không cách nào vào đó được.”
17 Eu afirmo a vocês que isto é verdade: quem não receber o Reino de Deus como uma criança nunca entrará nele.
18 Một viên quan hỏi Ngài: “Thưa Thầy nhân lành, tôi phải làm gì để được sự sống vĩnh phúc?”
18 Certo líder judeu perguntou a Jesus: — Bom Mestre, o que devo fazer para conseguir a vida eterna?
19 Đức Giê-su đáp: “Tại sao ông gọi Ta là nhân lành? Không có ai nhân lành ngoại trừ Đức Chúa Trời.
19 Jesus respondeu:
20 Ông đã biết các điều răn: Đừng ngoại tình, đừng giết người, đừng trộm cắp, đừng làm chứng dối, hãy hiếu kính cha mẹ.”
20 Você conhece os mandamentos: “Não cometa adultério, não mate, não roube, não dê falso testemunho contra ninguém, respeite o seu pai e a sua mãe.”
21 Ông ấy thưa: “Tôi đã giữ tất cả những điều đó từ khi còn trẻ.”
21 O homem respondeu: — Desde criança eu tenho obedecido a todos esses mandamentos.
22 Nghe vậy, Đức Giê-su dạy: “Ông còn thiếu một điều: Hãy bán tất cả tài sản, đem phân phát cho người nghèo khổ, ông sẽ có kho tàng trên trời, rồi hãy đến mà theo Ta.”
22 Quando Jesus ouviu isso, disse:
23 Nghe lời ấy, ông ta trở nên buồn rầu, vì ông giàu có lắm.
23 Quando o homem ouviu isso, ficou muito triste, pois era riquíssimo.
24 Đức Giê-su nhìn ông bảo: “Người giàu có khó vào Nước Đức Chúa Trời biết bao!
24 Vendo a tristeza dele, Jesus disse:
25 Thật thế, lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước Đức Chúa Trời.”
25 É mais difícil um rico entrar no Reino de Deus do que um camelo passar pelo fundo de uma agulha.
26 Những người nghe câu ấy hỏi Chúa: “Thế thì ai mới được cứu rỗi?”
26 Os que ouviram isso perguntaram: — Então, quem é que pode se salvar?
27 Ngài đáp: “Việc loài người không làm được, Đức Chúa Trời làm được cả!”
27 Jesus respondeu:
28 Phê-rơ thưa: “Chúng con đã bỏ tất cả những gì mình có để theo Thầy!”
28 Aí Pedro disse: — Veja! Nós deixamos a nossa família e seguimos o senhor.
29 Ngài đáp: “Thật, Ta bảo các con, không ai bỏ nhà cửa hoặc vợ chồng, hoặc anh em, hoặc cha mẹ, hoặc con cái vì Nước Đức Chúa Trời,
29 Jesus respondeu:
30 mà lại không lãnh được gấp nhiều lần hơn trong đời này và được sự sống vĩnh phúc trong đời sau!”
30 receberá ainda nesta vida muito mais e, no futuro, receberá a vida eterna.
31 Đức Giê-su đem mười hai sứ đồ riêng ra mà bảo: “Này, chúng ta lên Giê-ru-sa-lem; tất cả những điều các tiên tri đã viết về Con Người sẽ được ứng nghiệm.
31 Jesus levou os doze discípulos para um lado e disse:
32 Vì Ngài sẽ bị nộp cho người ngoại quốc, bị chế nhạo, nhiếc mắng, phỉ nhổ
32 Ele será entregue aos não judeus, e estes vão zombar dele, insultá-lo, cuspir nele
33 và sau khi đánh đòn, họ sẽ giết Ngài đi, nhưng đến ngày thứ ba, Ngài sẽ sống lại.”
33 e bater nele; e depois o matarão. Mas no terceiro dia ele ressuscitará.
34 Nhưng các sứ đồ không hiểu nổi những lời này. Ý nghĩa lời ấy bị giấu kín, nên họ không biết Ngài nói gì cả.
34 Os discípulos não entenderam nada do que Jesus disse. O que essas palavras queriam dizer estava escondido deles, e eles não sabiam do que Jesus estava falando.
35 Khi gần đến thành Giê-ri-cô, Đức Giê-su gặp một người mù ngồi ăn xin bên vệ đường.
35 Jesus já estava chegando perto da cidade de Jericó. Acontece que um cego estava sentado na beira do caminho, pedindo esmola.
36 Nghe tiếng đoàn dân đông kéo qua, anh hỏi có việc gì vậy?
36 Quando ouviu a multidão passando, ele perguntou o que era aquilo.
37 Họ bảo: “Đức Giê-su, người Na-xa-rét đang đi qua đây!”
37 — É Jesus de Nazaré que está passando! — responderam.
38 Anh mù kêu lớn: “Lạy Đức Giê-su, Con vua Đa-vít, xin thương xót con!”
38 Aí o cego começou a gritar: — Jesus,
39 Những người đi trước quở trách người mù và bảo anh nín đi. Nhưng anh càng kêu to: “Lạy Con vua Đa-vít, xin thương xót con!”
39 As pessoas que iam na frente o repreenderam e mandaram que ele calasse a boca. Mas ele gritava ainda mais: — Filho de Davi, tenha pena de mim!
40 Đức Giê-su dừng lại, truyền đem anh mù đến. Khi anh lại gần, Ngài hỏi:
40 Jesus parou e mandou que trouxessem o cego. Quando ele chegou perto, Jesus perguntou:
41 “Con muốn Ta làm gì cho con?” Người mù đáp: “Lạy Chúa, xin cho con được sáng mắt!”
41 — O que é que você quer que eu faça? — Senhor, eu quero ver de novo! — respondeu ele.
42 Đức Giê-su bảo anh: “Hãy sáng mắt lại! Đức tin con đã chữa lành con!”
42 Então Jesus disse:
43 Lập tức, người mù được sáng mắt, liền đi theo Ngài, tôn vinh Đức Chúa Trời. Tất cả dân chúng chứng kiến việc ấy cũng đều ca ngợi Đức Chúa Trời.
43 No mesmo instante o homem começou a ver e, dando glória a Deus, foi seguindo Jesus. E todos os que viram isso começaram a louvar a Deus.

Ler em outra tradução

Comparar com outra

Estude este capítulo no WhatsApp

Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Lucas 18, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.