Juízes 5

New Vietnamese Bible (VIETNVB) vs NTLH

Sair da comparação
NTLH Nova Tradução na Linguagem de Hoje 2000
1 Trong ngày ấy, Đê-bô-ra và Ba-rác, con trai của A-bi-nô-am hát rằng:
1 Naquele dia Débora e Baraque, filho de Abinoão, cantaram assim:
2 “Khi các quan trưởng lãnh đạo trong Y-sơ-ra-ên,Và khi dân chúng tự nguyện vâng phục,Ca tụng CHÚA!
2 Louvem a Deus, o Senhor ! Os israelitas resolveram lutar, e o povo se apresentou alegremente!
3 Hỡi các vua, xin hãy nghe; hỡi các lãnh tụ, xin lắng nghe.Tôi sẽ hát cho CHÚA,Tôi sẽ hát một bài ca cho CHÚA, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.
3 Ouçam, reis! Prestem atenção, governadores! Eu tocarei música e cantarei ao
4 Lạy CHÚA, khi Ngài từ Sê-i-rơ đi ra,Khi Ngài đi qua vùng Ê-đôm,Thì đất rúng động,Trời đổ cơn mưa,Mây tuôn nước xuống.
4 Ó Senhor Deus, quando saíste das montanhas de Seir, quando vieste da região de Edom, a terra tremeu, e as chuvas caíram do céu. Sim, caiu muita água das nuvens.
5 Các núi rúng động trước mặt CHÚA,Núi Si-nai run rẩy trước mặt CHÚA,Là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.
5 As montanhas tremeram diante do Senhor , o Deus do monte Sinai, diante do
6 Trong ngày của Sam-ga, con trai A-nát,Trong ngày của Gia-ên, các đại lộ bị bỏ hoang,Khách bộ hành phải đi tránh vào các con đường nhỏ.
6 Nos dias de Sangar, filho de Anate, nos dias de Jael, as estradas estavam desertas, e os viajantes usavam os desvios.
7 Cuộc sống ở nông thôn đã ngưng lại,Nó đã ngưng lại cho đến khi tôi,Là Đê-bô-ra, chổi dậy,Tôi chổi dậy như một người mẹ trong Y-sơ-ra-ên.
7 Nas cidades de Israel não havia ninguém; elas ficaram vazias até que você, Débora, veio, para ser mãe de Israel.
8 Khi dân chúng chọn cho họ các thần mới,Thì quân giặc đã vào tận trong các cổng thành.Và trong số bốn mươi ngàn người Y-sơ-ra-ên,Chẳng ai có được một cái khiên hay một cây giáo.
8 Os israelitas escolheram novos deuses, e então houve guerra no país. E dos quarenta mil homens de Israel nenhum carregava
9 Lòng tôi ngưỡng mộ các vị tư lệnh của Y-sơ-ra-ên,Họ thật hết lòng giúp dân giúp nước.Ca tụng CHÚA!
9 O meu coração está com os comandantes de Israel, com o povo que se ofereceu alegremente. Louvem a Deus, o
10 Hỡi những ai cỡi trên lừa trắng,Hỡi những ai ngồi trên yên phủ bằng thảm nhung,Hỡi những khách bộ hành trên đường,Xin hãy thuật chuyện ấy ra.
10 Falem disso, vocês que montam jumentos brancos, sentados nas suas selas, e os que viajam a pé.
11 Xin thuật ra cho những nhạc sĩ đang trổi nhạc bên bến nước,Để họ diễn đi diễn lại ca khúc chiến thắng của CHÚA,Là ca khúc chiến thắng của con dân Y-sơ-ra-ên.Hỡi con dân của CHÚA,Hãy cùng nhau kéo ra cổng thànhTấn công quân giặc.
11 Escutem! A multidão barulhenta em volta dos poços está falando das vitórias do das vitórias do povo de Israel! Então o povo do
12 Thức dậy! Thức dậy! Hỡi Đê-bô-ra!Thức dậy! Thức dậy! Hãy hát một bài ca!Vùng dậy! Hỡi Ba-rác!Hãy dẫn những phu tù của ngươi đi;Hỡi con trai của A-bi-nô-am!
12 Levante-se, Débora, levante-se! Levante-se! Cante uma canção! Levante-se! Marche, Baraque, filho de Abinoão, e leve presos os que o prenderam!
13 Hãy tiến xuống,Hỡi con cháu còn sót lại của những nhà quý tộc;Dân của CHÚA tiến xuốngChống lại những kẻ cường bạo.
13 Então os que tinham fé foram para onde estavam os seus chefes, e o povo de Deus, o foi encontrar-se com Baraque.
14 Quân dân từ chi tộc Ép-ra-im kéo nhau ra thung lũng,Phía sau ngươi lại có Bên-gia-min, là anh em ngươi;Những vị tư lệnh từ Ma-ki kéo đến,Và những người cầm gậy cầm quân từ Sa-bu-luân tiến ra.
14 Eles saíram de Efraim e foram para o vale, atrás da De Maquir desceram os comandantes, e de Zebulom vieram os oficiais.
15 Những vị chỉ huy của Y-sa-ca cùng đi với Đê-bô-ra;Phải, Y-sa-ca đồng tâm hiệp lực với Ba-rác,Họ cùng nhau xông vào thung lũng.Còn trong các gia tộc của Ru-bên,Người ta cứ đắn đo suy nghĩ trong lòng.
15 Os chefes de Issacar foram com Débora. Sim, a tribo de Issacar foi, e Baraque também. Eles o seguiram até o vale. Mas a tribo de Rúben estava dividida; eles discutiram e não foram.
16 Vì sao các người còn nán trễ trong các ràn chiên,Mà nghe tiếng gọi các đàn chiên?Ở trong các gia tộc của Ru-bên,Người ta cứ đắn đo suy nghĩ trong lòng.
16 Por que resolveram ficar lá com as ovelhas? Será que foi para ouvir os pastores chamarem o rebanho? Sim, a tribo de Rúben estava dividida; eles discutiram e não foram.
17 Ga-la-át vẫn còn ở mãi bên kia sông Giô-đanh;Còn Đan, sao ngươi cứ lẩn quẩn trên các chiếc thuyền?A-se vẫn ngồi bất động bên bờ biển,Đành lòng an cư bên các bãi thuyền!
17 A tribo de Gade ficou a leste do rio Jordão, e a tribo de Dã, nas pastagens. A tribo de Aser parou perto do mar e ficou na beira das praias.
18 Sa-bu-luân là những hào kiệt coi thường cái chết;Nép-ta-li cũng vậy, sẵn sàng hy sinh mạng sống ở chốn sa trường.
18 Mas o povo de Zebulom e de Naftali arriscou a sua vida no campo de batalha.
19 Các vua kéo đến, họ liền tiến đánh;Họ đánh các vua Ca-na-an,Ở Ta-a-nác, bên giòng nước Mê-ghi-đô;Họ chẳng màng đến chiến lợi phẩm bạc tiền.
19 Os reis vieram e lutaram em Taanaque, perto do riacho de Megido. Os reis de Canaã lutaram, mas não tomaram dos inimigos nenhuma prata.
20 Trên trời, các vì sao chiến đấu;Theo tuyến đường mình mà đánh hạ Si-sê-ra.
20 Até as estrelas lutaram: enquanto caminhavam pelo céu, elas lutaram contra Sísera.
21 Giòng nước ở Ki-sôn đã cuốn trôi chúng mất;Giòng nước lũ của Ki-sôn đã lôi cuốn chúng đi.Hỡi linh hồn ta, hãy dũng mãnh tiến lên!
21 Os inimigos foram arrastados por uma enchente do rio Quisom, o velho rio Quisom. Eu marcharei, marcharei com firmeza!
22 Tiếng vó ngựa vang lên dồn dập,Tiếng ngựa phi vang dội khắp nơi.
22 Então os cavalos galoparam e galoparam, socando a terra com os seus cascos.
23 Thiên sứ của CHÚA phán:‘Hãy rủa sả Mê-rô,Hãy rủa sả dân cư của nó cách thậm tệ.’Vì chúng chẳng chịu đến giúp đỡ CHÚA,Chúng không đến giúp đỡ CHÚAĐánh lại những kẻ cường bạo.
23 “Amaldiçoem a cidade de Meroz”, diz o Anjo do “amaldiçoem, amaldiçoem os seus moradores, pois eles não vieram ajudar o não vieram como soldados para lutar por ele.”
24 Người phụ nữ được phước nhất là Gia-ên,Vợ của Hê-be, người Kê-nít,Ấy là người phụ nữ được phước nhất trong các bà nội trợ sống trong lều trại.
24 A mais feliz das mulheres é Jael, a mulher de Héber, o queneu. Ela é a mais feliz das mulheres que vivem em barracas.
25 Hắn hỏi nước, nàng đem cho sữa,Dùng chén sang đem sữa béo tiến dâng.
25 Sísera pediu água, porém ela lhe deu leite; trouxe nata para ele numa linda taça.
26 Tay trái nàng cầm chiếc cọc,Tay phải nàng cầm cái búa của các lao công;Nàng đóng vào đầu Si-sê-ra một nhát,Đập bể đầu và đâm thủng màng tang.
26 Pegou a estaca com uma das mãos e a marreta com a outra. Deu um golpe em Sísera e esmagou a sua cabeça; furou e quebrou a sua cabeça em pedaços.
27 Hắn gục xuống, ngã quỵ,Nằm bất động nơi chân nàng;Hắn gục xuống nơi chân nàng, ngã quỵ;Hắn gục xuống nơi nào, hắn ngã chết ngay nơi đó.
27 Ele caiu de joelhos, tombou e ficou estendido a seus pés. A seus pés ele caiu de joelhos e tombou; ele caiu morto no chão.
28 Mẹ của Si-sê-ra ngóng trông qua cửa sổ,Bà nhìn qua màng thưa che cửa, hỏi rằng:‘Tại sao xe chiến mã của con ta chưa về?Tại sao tiếng vó ngựa của chiến xa con ta chưa vang dội?’
28 A mãe de Sísera olhou pela janela da sua casa; olhou bem, pela grade da janela, e disse: “Por que o seu carro demora tanto para chegar? Por que os seus cavalos andam tão devagar?”
29 Những nữ nhân hầu hạ khôn khéo lựa lời giải đáp,Chính bà cũng tự trả lời và thầm nghĩ:
29 As suas acompanhantes mais sábias respondiam, e ela repetia para si mesma:
30 ‘Há chẳng phải chúng đã kiếm được và đang chia nhau chiến lợi phẩm đấy sao?Một hay hai phụ nữ cho mỗi chàng chiến sĩ;Những chiến lợi phẩm bằng vải nhuộm thì dành cho Si-sê-ra,Ô những tấm vải thêu và nhuộm đẹp,Há chẳng phải hai tấm vải thêu và nhuộm đẹpSẽ là chiến lợi phẩm làm khăn choàng cổ cho ta hay sao?’
30 “Eles devem estar dividindo as coisas que tomaram: uma ou duas moças para cada soldado, roupas luxuosas para Sísera e panos bordados para o pescoço da rainha.”
31 Lạy CHÚA, nguyện tất cả những kẻ thù của Ngài đều bị diệt vong như vậy!Nguyện những kẻ yêu mến Ngài sẽ giống nhưMặt trời mọc lên rạng rỡ.”Rồi xứ được hòa bình trong bốn mươi năm.
31 Assim, ó Senhor Deus, morram todos os teus inimigos, porém que os teus amigos brilhem como a forte luz do sol nascente! E houve paz no país durante quarenta anos.

Ler em outra tradução

Comparar com outra

Estude este capítulo no WhatsApp

Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Juízes 5, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.