Juízes 1

New Vietnamese Bible (VIETNVB) vs NVT

Sair da comparação
NVT Nova Versão Transformadora
1 Sau khi Giô-suê qua đời, dân Y-sơ-ra-ên cầu hỏi CHÚA rằng: “Ai trong chúng con sẽ đi đánh dân Ca-na-an trước?”
1 Depois da morte de Josué, os israelitas perguntaram ao S enhor : “Qual das tribos deve ser a primeira a atacar os cananeus?”.
2 CHÚA phán: “Chi tộc Giu-đa sẽ lên đánh trước. Ta sẽ phó xứ vào tay họ.”
2 O S enhor respondeu: “Judá, pois eu entreguei a terra em suas mãos”.
3 Người Giu-đa bèn nói với người Si-mê-ôn, là anh em của họ rằng: “Xin hãy lên đánh dân Ca-na-an giúp chúng tôi, trong phần đất đã chia cho chúng tôi; rồi sau đó chúng tôi sẽ đi với anh em đến phần đất đã chia cho anh em.” Người Si-mê-ôn liền đi lên với họ.
3 Os homens de Judá disseram a seus parentes da tribo de Simeão: “Venham conosco lutar contra os cananeus que vivem no território que nos foi designado como herança. Depois ajudaremos vocês a conquistar o seu território”. Os homens de Simeão foram com Judá.
4 Vậy người Giu-đa đi lên, và CHÚA phó dân Ca-na-an và dân Phê-rê-sít vào tay họ. Họ đánh hạ mười ngàn người tại Bê-xéc.
4 Quando os homens de Judá atacaram, o S enhor entregou os cananeus e os ferezeus em suas mãos, e eles mataram dez mil guerreiros inimigos em Bezeque.
5 Tại Bê-xéc họ đánh bại vua A-đô-ni Bê-xéc, dân Ca-na-an và dân Phê-rê-sít.
5 Naquela cidade, encontraram o rei Adoni-Bezeque, lutaram contra ele e derrotaram os cananeus e os ferezeus.
6 A-đô-ni Bê-xéc chạy trốn, nhưng họ đuổi theo và bắt được vua. Họ chặt đứt các ngón cái của tay và chân vua.
6 Adoni-Bezeque fugiu, mas os israelitas o capturaram e cortaram os polegares de suas mãos e de seus pés.
7 A-đô-ni Bê-xéc bèn nói: “Có bảy mươi vua bị chặt đứt các ngón cái của tay và chân, phải lượm thức ăn vụn dưới bàn ta. Những gì ta đã làm cho người khác, bây giờ Đức Chúa Trời báo trả lại trên ta.” Họ dẫn vua đến Giê-ru-sa-lem và vua qua đời tại đó.
7 Adoni-Bezeque disse: “Setenta reis com os polegares das mãos e dos pés cortados comiam migalhas debaixo de minha mesa. Agora Deus me retribuiu aquilo que fiz com eles”. E o levaram a Jerusalém, onde ele morreu.
8 Người Giu-đa tiến đánh Giê-ru-sa-lem và chiếm lấy. Họ dùng gươm hủy diệt và phóng hỏa thành.
8 Os homens de Judá atacaram Jerusalém e a conquistaram. Mataram todos os seus habitantes e puseram fogo na cidade.
9 Sau đó người Giu-đa tiến xuống tấn công dân Ca-na-an cư ngụ ở miền quê trên các cao nguyên, ở miền Nam, và ở vùng đồng bằng.
9 Depois disso, desceram para lutar contra os cananeus que viviam na região montanhosa do Neguebe e nas colinas do oeste.
10 Người Giu-đa cũng tiến đánh dân Ca-na-an ở miền Hếp-rôn và đánh hạ các thành Sê-sai, A-hi-man, và Tan-mai.
10 Judá marchou contra os cananeus que habitavam em Hebrom (antes chamada de Quiriate-Arba), e derrotou os exércitos de Sesai, Aimã e Talmai.
11 Từ đó họ tiến đánh dân thành Đê-bia
11 Dali avançaram contra os habitantes de Debir (antes chamada de Quiriate-Sefer).
12 Bấy giờ Ca-lép tuyên bố: “Ai tấn công Ki-ri-át Sê-phe và chiếm được nó, thì ta sẽ gả con gái ta là Ạc-sa làm vợ người ấy.”
12 Calebe disse: “Darei minha filha Acsa em casamento a quem atacar e tomar Quiriate-Sefer”.
13 Ốt-ni-ên, con trai của Kê-na, em trai của Ca-lép, đánh hạ được thành ấy; Ca-lép bèn gả Ạc-sa, con gái ông, làm vợ Ốt-ni-ên.
13 Otoniel, filho de Quenaz, irmão mais novo de Calebe, tomou a cidade, e Calebe lhe deu Acsa como esposa.
14 Khi Ạc-sa về nhà chồng, nàng giục chồng hãy xin cha nàng một cánh đồng. Khi nàng xuống lừa, Ca-lép hỏi: “Con muốn gì đây?”
14 Quando Acsa se casou com Otoniel, ela insistiu para que ele pedisse um campo ao pai dela. Assim que ela desceu do jumento, Calebe lhe perguntou: “O que você quer?”.
15 Nàng thưa: “Con muốn xin cha cho con một món quà. Bây giờ cha đã gả con về miền nam khô cằn thì xin cha cũng hãy cho con các suối nước nữa.” Ca-lép bèn ban cho nàng các suối nước ở miền thượng lưu và các suối nước ở miền hạ lưu.
15 Ela respondeu: “Quero mais um presente. O senhor me deu terras no deserto do Neguebe; agora, peço que também me dê fontes de água”. Então Calebe lhe deu as fontes superiores e as fontes inferiores.
16 Các con cháu của Kê-nít, nhạc phụ của Môi-se, từ thành Cây chà là cùng đi lên với người Giu-đa, họ đến định cư giữa những người sống trong vùng đồng hoang của Giu-đa, là vùng nằm về phía nam, gần A-rát.
16 Quando a tribo de Judá deixou Jericó, a cidade das palmeiras, os queneus, descendentes do sogro de Moisés, os acompanharam até o deserto de Judá. Eles se estabeleceram no meio do povo dali, perto da cidade de Arade, no Neguebe.
17 Người Giu-đa với người Si-mê-ôn, là anh em của họ, đi lên đánh bại dân Ca-na-an ngụ tại Xê-phát và hủy diệt nơi ấy. Vì thế họ gọi nơi ấy là Họt-ma.
17 Então a tribo de Judá se uniu com seus parentes da tribo de Simeão para lutar contra os cananeus que habitavam em Zefate, e destruíram completamente a cidade. Por isso, agora ela se chama Hormá.
18 Người Giu-đa chiếm lấy Ga-xa và vùng phụ cận, Ách-ca-lôn và vùng phụ cận, Éc-rôn và vùng phụ cận.
18 A tribo de Judá também conquistou as cidades de Gaza, Ascalom e Ecrom e os territórios ao redor.
19 CHÚA ở cùng người Giu-đa và họ chiếm lấy các vùng cao nguyên; nhưng họ không thể đuổi dân Ca-na-an ở vùng đồng bằng đi được, vì chúng có thiết xa.
19 O S enhor estava com a tribo de Judá. Ela tomou posse da região montanhosa, mas não conseguiu expulsar os habitantes da planície, pois eles tinham carros de guerra com rodas de ferro.
20 Theo như lịnh của Môi-se đã truyền, người ta ban Hếp-rôn cho Ca-lép. Ca-lép bèn đuổi ba con trai của A-nác ra khỏi vùng ấy.
20 A cidade de Hebrom foi entregue a Calebe, conforme Moisés havia prometido, e ele expulsou seus habitantes, descendentes dos três filhos de Enaque.
21 Nhưng người Bên-gia-min không đuổi dân Giê-bu-sít ngụ tại Giê-ru-sa-lem đi, cho nên dân Giê-bu-sít vẫn sống tại Giê-ru-sa-lem giữa người Bên-gia-min cho đến ngày nay.
21 A tribo de Benjamim, porém, não conseguiu expulsar os jebuseus que moravam em Jerusalém. Por isso, até hoje os jebuseus vivem no meio do povo de Benjamim.
22 Nhà Giô-sép cũng lên tiến đánh Bê-tên, và CHÚA ở với họ.
22 Os descendentes de José atacaram a cidade de Betel, e o S enhor estava com eles.
23 Nhà Giô-sép sai các thám tử đến do thám Bê-tên
23 Enviaram espiões a Betel (antes conhecida como Luz),
24 Các thám tử thấy một người trong thành đi ra, họ bắt lại hỏi: “Hãy chỉ cho chúng tôi lối vào trong thành, thì chúng tôi sẽ đối xử tử tế với anh.”
24 e eles abordaram um homem que saía da cidade e lhe disseram: “Mostre-nos como entrar na cidade e teremos misericórdia de você”.
25 Vậy người ấy chỉ cho họ lối vào trong thành. Họ bèn dùng gươm đánh diệt thành nhưng để cho người ấy và gia đình người ấy ra đi.
25 Ele mostrou a entrada, e eles mataram todos os habitantes de Betel, exceto aquele homem e sua família.
26 Vậy người ấy đến trong xứ của dân Hê-tít và xây dựng một thành, rồi đặt tên là Lu-xơ. Ấy là tên của thành đó cho đến ngày nay.
26 Mais tarde, o homem se mudou para a terra dos hititas, onde construiu uma cidade e a chamou de Luz, que é seu nome até hoje.
27 Người Ma-na-se không đuổi đi dân ở Bết Sê-an và các làng xã xung quanh nó, dân ở Tha-a-nác và các làng xã xung quanh nó, dân ở Đô-rơ và các làng xã xung quanh nó, dân ở Ghíp-lê-am và các làng xã xung quanh nó, dân ở Mê-ghi-đô và các làng xã xung quanh nó; vì dân Ca-na-an đã quyết chí tiếp tục cư ngụ trong xứ.
27 A tribo de Manassés, porém, não expulsou os habitantes de Bete-Sã, Taanaque, Dor, Ibleã e Megido, nem dos povoados ao seu redor, pois os cananeus estavam decididos a permanecer naquela região.
28 Khi người Y-sơ-ra-ên cường thịnh thì họ bắt dân Ca-na-an phục dịch họ, nhưng họ không đuổi chúng đi.
28 Quando Israel se fortaleceu, submeteu os cananeus a trabalhos forçados, mas não os expulsou completamente da terra.
29 Người Ép-ra-im cũng không đuổi dân Ca-na-an sống ở Ghê-xe đi; nhưng dân Ca-na-an sống giữa họ ở Ghê-xe.
29 A tribo de Efraim também não expulsou os habitantes de Gezer, de modo que os cananeus continuaram a viver no meio deles.
30 Người Sa-bu-luân cũng không đuổi dân ở Kít-rôn, hoặc dân ở Na-ha-lô đi, nhưng dân Ca-na-an vẫn sống giữa họ, và bị bắt phải phục dịch họ.
30 A tribo de Zebulom não expulsou os habitantes de Quitrom e de Naalol, de modo que os cananeus continuaram a viver no meio deles, mas foram submetidos a trabalhos forçados.
31 Người A-se cũng không đuổi dân ở A-cô, dân ở Si-đôn, dân ở Ách-láp, dân ở Ạc-xíp, dân ở Hên-ba, dân ở A-phéc, hay dân ở Rê-hốp đi;
31 A tribo de Aser não expulsou os habitantes de Aco, Sidom, Alabe, Aczibe, Helba, Afeque e Reobe.
32 nhưng người A-se lập nghiệp giữa dân Ca-na-an, là cư dân trong xứ; vì họ không đuổi chúng đi.
32 Estabeleceu-se no meio dos cananeus que habitavam a terra, pois não conseguiu expulsá-los.
33 Người Nép-ta-li cũng không đuổi dân ở Bết Sê-mết, hay dân ở Bết A-nát đi, nhưng họ lập nghiệp giữa dân Ca-na-an, là cư dân trong xứ; nhưng dân Bết Sê-mết và dân Bết A-nát bị bắt phải phục dịch họ.
33 Da mesma forma, a tribo de Naftali não expulsou os habitantes de Bete-Semes e de Bete-Anate. Estabeleceu-se no meio dos cananeus que habitavam a terra, mas submeteu os habitantes de Bete-Semes e de Bete-Anate a trabalhos forçados.
34 Dân A-mô-rít dồn người Đan lên núi, không cho họ xuống đồng bằng.
34 Quanto à tribo de Dã, os amorreus a obrigaram a voltar para a região montanhosa e não permitiram que descesse à planície.
35 Dân A-mô-rít quyết chí tiếp tục cư ngụ tại Hê-re, A-gia-lôn, và Sa-an-bim; nhưng tay của nhà Giô-sép đè nặng trên chúng, và chúng bị bắt phải phục dịch họ.
35 Os amorreus estavam decididos a ficar no monte Heres, em Aijalom e em Saalbim, mas quando os descendentes de José se fortaleceram, submeteram os amorreus a trabalhos forçados.
36 Địa phận của dân A-mô-rít kéo dài từ đèo Bò-cạp đến Sê-la trở lên.
36 A divisa dos amorreus se estendia da ladeira do Escorpião até Selá, continuando dali para cima.

Ler em outra tradução

Comparar com outra

Estude este capítulo no WhatsApp

Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Juízes 1, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.