Judas 1
New Vietnamese Bible (VIETNVB) vs AAI
1 Tôi là Giu-đe, đầy tớ của Chúa Cứu Thế Giê-su và em của Gia-cơ,Kính gởi những người được kêu gọi là những người được Đức Chúa Trời là Cha chúng ta yêu thương và được Chúa Cứu Thế Giê-su gìn giữ.
1 Ayu Jude i James airi atufuw, baise Jesu Keriso isan abi’akir. Kwa iyab Tamat God iyabuwi e’afi ana yabowamaim kwama’am naatu Jesu Keriso ana tafafaramaim kwama’am etei isa a fef akikirum.
2 Nguyện xin lòng thương xót, bình an và tình yêu thương ban cho anh chị em được gia tăng bội phần.
2 Kabeber, tufuw, naatu yabow kwa wanawanamaim wanatowan na’in nasuwa nare.
3 Anh chị em yêu dấu, tôi vẫn mong ước viết cho anh chị em về sự cứu rỗi chung của chúng ta, nhưng tôi thấy cần phải viết để khuyên anh chị em hãy tiếp tục chiến đấu cho đức tin, là đức tin đã được ban cho các thánh đồ một lần đầy đủ cả.
3 Are au ofonah, ayu asinaftobon yawas boubun tafafaram isan atakirum, baise nati efanin ayu dogorou wanawanan i kokok kwanekwan mi’itube akikirum ana’ototofari, saise God mar maumurih efanin mar ta’imon ana sabuw baitumatum bitih, nati baitumatum i kwanafair kwanawasfafar gewas kwanama.
4 Vì có mấy kẻ trà trộn vào giữa vòng anh chị em, là những kẻ từ xưa đã dành riêng để bị hình phạt, là những kẻ không tin kính, đã biến ân sủng của Đức Chúa Trời thành đời sống phóng đãng, chối bỏ Đấng Chủ Tể duy nhất và Chúa chúng ta là Chúa Cứu Thế Giê-su.
4 Anayabin sabuw afa God ana ef ufunane tenan i wa’iwa’iramaim hina wanawanat hirun, bai’obaiyen hibotabir te’o, “God i manaw kabeber wairafin imih karam boro tanisesebar kwanekwan, naatu Regah Jesu Keriso ata Bonawiyenayan ta’imon teyayaub.” Iti sabuw i marasika Buk Atamaninamaim isah hi’oka inu’in baimakiy boro hinab.
5 Mặc dầu anh chị em đã biết tất cả, tôi tưởng cũng nên nhắc lại rằng dù Ngài đã giải cứu dân Ngài ra khỏi xứ Ai-cập, sau đó Ngài lại tiêu diệt những kẻ không tin.
5 Iti sawar etei isah i kwaso’ob, baise akokok nuhi anakusib maiye, Regah ana sabuw Egyptane nawiyih hitit, baise nati ufunamaim sabuw iyab men hibitumatum etei gurusih himorob.
6 Các thiên sứ không chịu giữ địa vị của mình, nhưng lại bỏ chỗ riêng, nên họ bị Đức Chúa Trời tống giam, chịu xiềng xích bất tận trong ngục tối chờ đợi sự phán xét trong ngày lớn.
6 Naatu tounamatar iyab hibi’ukwarin hai fair men hikakafiy, baise hai efan nowah anababatun hikwahir hire fatum wanatowan inu’inuwinamaim God fatumih gugumin wanawanan ya hima Baibatebat Ana Veya gagamin tekakaif.
7 Hãy nhớ lại thành Sô-đôm, Gô-mô-rơ và các thành phố chung quanh; dân chúng trong các thành ấy đã làm không khác gì các thiên sứ kia, phạm tội tà dâm, chạy theo tình dục đồng giới. Họ đang bị lửa đời đời đoán phạt để làm gương.
7 Ef nati ta’imon Sodom Gomorah sabuw naatu bar merar nati sisibinamaim hima’am hai yawas etei baisesebar kwanekwan hitin. Orot taiyuwih naatu baibin taiyuwih hibisesebar kwanekwan isan God wairaf wanatowan iyafar re nati bar merar sabuw etei e’arahih himorob. Naatu nati sawar etei i sabuw bowabow kakafin wairafih hai baimatnuwen.
8 Cũng một cách đó, những người mơ mộng này làm ô uế thân xác, khinh dễ thẩm quyền và báng bổ các thiên sứ vinh quang.
8 Ef nati ta’imon sabuw mim kwanekwaneyah hai baifuwenamaim biyah hibokarit, God ana aiwob hikwahir, naatu Auyom mar ana sabuw hi’uwih higigimih.
9 Dù thiên sứ trưởng Mi-chên cũng không làm vậy. Trong khi đối chất với quỷ vương về việc ai sẽ được xác của Môi-se, cũng không dám lấy lời lăng mạ tố cáo nhưng chỉ nói rằng: “Chúa sẽ quở trách ngươi!”
9 Baise tounamatar hai ukwarin Michael, Demon mowan hairi Moses biyan isan higamigam ana maramaim, i men taiyuwin ana fair tafanamaim bat awan fokar demon mowan iu kwanikwaniy baise eo, “Regah boro nakwarar narumutufuri.”
10 Nhưng bọn người này lấy lời lăng mạ bất cứ điều gì họ không hiểu; còn những gì họ biết bằng trực giác, giống như các loài thú vô tri, là những điều đang hủy diệt họ.
10 Iti sabuw tur naniyah men hiso’ob, baise asir hio tibigigim kwanekwan, naatu sawar afa naniyah i hiso’ob baise haru forobe tisisinaf kwanekwan, imih nati sawaramaim boro nagurusih.
11 Khốn thay cho họ! Họ đã chọn theo con đường của Ca-in, vì lợi lộc, họ đã tự chuốc cho mình lỗi lầm của Ba-la-am, và phản loạn như Cô-rê, để bị hủy diệt.
11 Baimakiy boro kakafin anababatun hinab, Cain sisinafumaim ana ef hi’ufunun tenan, naatu kabay isan yah rab. Balam sawar kakafih sisinafube tisisinaf, naatu Korah ana konakon wanawanan hirun higugurusibe boro nagurusih.
12 Họ giống như những vết nhơ trong bữa tiệc thương yêu, cùng dự tiệc mà không biết sợ, chỉ biết lo cho chính mình; họ giống như những áng mây không nước bị gió cuốn trôi đi; họ giống như những cây không trái cuối thu, bị nhổ tận rễ, chết đến hai lần.
12 Iti sabuw aurih biya’ohow aurih biya’ohow en naatu bir kakaf en, farumayah na’atube a kau’ay wanawanan hirun a’aa atom ana yasisir i teo’of nowah, sakuk aurin toun en ebabin enan na’atube. Naatu maur ana veya ai baiwa’e tekerer tebatabat tiu’uyarir na’atube,
13 Họ giống như những lượn sóng cuồng dưới biển, sủi bọt bỉ ổi của mình; giống như những vì sao lạc, sự tối tăm u ám đời đời đã được dành sẵn cho họ.
13 taiyuwih hai biya’ohow ana itinin tor yan yabat erab fus ekubar rougoy erarouw na’atube. Naatu daman hai efan hisa’ir tibibib kwanekwan na’atube, baise nahimaim i gugumin kakafin God isah ya’asair wanatowan inu’in.
14 Cũng vì bọn người này mà Hê-nóc là cháu bảy đời của A-đam đã tiên tri rằng: “Xem kìa, Chúa sẽ đến với muôn ngàn thánh
14 Naatu Adam ana rara’ane hitutufuw renan Enoch i Adam ana’agir bai seven tufuw, i sabuw isah eobaimanih eo, “Kwa’itin, Regah ana sabuw kakafiyih maumurih na’in ai rourin na’atube bairi hitit tenan.
15 để xét đoán mọi người, để định tội hết thảy vì tất cả những việc không tin kính họ đã làm và tất cả lời dữ từ những kẻ tội lỗi không tin kính đã nói nghịch Ngài.”
15 Sabuw etei baibatiyih isan, naatu sabuw iyab God ana ef hisa’ir kakafin tisisinaf kousirih isan, naatu sabuw bowabow kakafih sinafuyah God ana ef hisa’ir tur kakafih hio hibigigim isah.”
16 Hạng người này luôn luôn cằn nhằn, trách móc, chạy theo các dục vọng riêng tư, ưa khoe khoang, nịnh hót người ta để trục lợi cho mình.
16 Iti sabuw i gamin okwanekwaneyah naatu bai’ubabarenayah, taiyuwih hai yawas kakafih tibi’ufunun. Naatu taiyuwih isah teo’o ra’ara’at, sabuw afa isah awah heaharewan saise i hai ma gewas isan.
17 Nhưng anh chị em yêu dấu, nên ghi nhớ những lời các sứ đồ của Chúa Cứu Thế Giê-su chúng ta đã nói trước cho anh chị em.
17 Baise au ofonah, abisa ata Regah Jesu Keriso ana kob abarayah marasika hio kwananowar i kwananuh.
18 Họ đã nói rằng: “Khi những ngày cuối cùng đến, có nhiều kẻ sẽ chế giễu anh chị em, có nhiều kẻ chạy theo dục vọng vô đạo.”
18 Iti na’atube a tur hi’owen hio, “Mar yomanin ana veya, sabuw iyab God ana ef hisa’ir hai naniyan kakafinamaim ebobonawiyih boro hinatit hinao hini’ibi.”
19 Đây là những kẻ chia rẽ, những con người phàm tục, không có Thánh Linh.
19 Iti sabuw i kausesebayah, hai kok gagamin i tafaram ana yawas kakafih hinasinaf, aurih Anun Kakafiyin en.
20 Nhưng anh chị em yêu dấu, hãy gây dựng lẫn nhau trong đức tin rất thánh. Hãy cầu nguyện trong Đức Thánh Linh.
20 Baise kwa, au ofonah, baitumatum kakafiyinamaim nawowabi kwanara’at, naatu Anun Kakafiyinamaim kwanayoyoban.
21 Hãy giữ mình trong tình yêu thương của Đức Chúa Trời. Mong đợi lòng thương xót của Chúa Cứu Thế Giê-su chúng ta cho được sự sống vĩnh phúc.
21 God ana yabow wanawananamaim natafafari kwanama ata Regah Jesu Keriso kwanakaif. I ana kabeberamaim boro yawas wanatowan nit.
22 Hãy thương xót những người này, là người nghi ngờ,
22 Sabuw iyab hai baitumatum ekwakwaris kwana kabibirih baibais kwanitih.
23 hãy cứu vớt những người kia, kéo họ ra khỏi lửa; còn những người khác, hãy thương xót lẫn sợ, ghét cả cái áo bị xác thịt làm ô uế.
23 Sabuw afa wairaf wan teyey saisewat wairaf wanane kwanarowen sukwarabih kwaniyawasih. Naatu kwanabir kwanakakaf auman sabuw afa kwaniwanbabanih, baise hai faifuw hi’usi’us karitanin auman men kwana’us.
24 Nguyện xin Đấng có quyền gìn giữ anh chị em khỏi vấp ngã, trình anh chị em một cách hân hoan và không có gì đáng trách trước sự hiện diện vinh quang của Ngài;
24 Imih God ta’imon ata Baiyawasenayan tanabora’ara’ah. I karam kwa boro natafafari a boro men narusukun, naatu a aubar en nabuwi ereyasisir kwanan bonamanamarin gewasin nanamaim kwanatit,
25 là Đức Chúa Trời duy nhất, Đấng cứu rỗi chúng ta qua Chúa Cứu Thế Giê-su, Chúa chúng ta. Nguyện xin vinh quang, oai nghiêm, năng lực và uy quyền đều thuộc về Ngài từ trước mọi thời đại, hiện tại và cho đến đời đời. A-men.
25 Ata Regah Jesu Keriso’one God isan tanaorereb, marakaw, bonamanamarin, fair, onowaten marasika na boun naatu mar etei nama wanatowan, wanatowan. Amen.
Atalhos do teclado
- Capítulo anterior←
- Próximo capítulo→
- Versículo anteriork
- Próximo versículoj
- Limpar seleçãoEsc
- Esta ajuda?
Estude este capítulo no WhatsApp
Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Judas 1, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.