Isaías 51

New Vietnamese Bible (VIETNVB) vs NTLH

Sair da comparação
NTLH Nova Tradução na Linguagem de Hoje 2000
1 “Hỡi những người theo đuổi sự công chính,Những người tìm kiếm CHÚA, hãy nghe Ta.Hãy nhìn xem vầng đá mà các ngươi đã được đẽo ra,Và mỏ đá mà các ngươi đã được đào lên.
1 O Senhor Deus diz: “Escutem, os que procuram a salvação, os que pedem a minha ajuda! Lembrem da rocha da qual foram cortados, da pedreira de onde foram tirados.
2 Hãy nhìn xem Áp-ra-ham, tổ phụ các ngươiVà Sa-ra, người sinh sản các ngươi.Khi Ta kêu gọi, người chỉ có một mìnhNhưng Ta đã ban phước và làm cho người trở nên nhiều.
2 Pensem no seu antepassado Abraão e em Sara, de quem vocês são descendentes. Abraão não tinha filhos quando eu o chamei, mas eu o abençoei e lhe dei muitos descendentes.
3 Vì CHÚA sẽ an ủi Si-ôn,An ủi tất cả những nơi hoang tàn của nó.Ngài sẽ làm cho đồng hoang của nó như vườn Ê-đen,Sa mạc như vườn của CHÚA.Tại nơi ấy người ta sẽ tìm thấy hân hoan, vui mừng,Lời cảm tạ và tiếng hát.
3 Eu, o Senhor , terei compaixão de Jerusalém e de todas as suas casas que estão em ruínas. Eu farei com que as suas terras secas virem um jardim, como o jardim que plantei na região do Éden. Ali haverá alegria e felicidade, haverá música e cânticos de louvor a mim.
4 Hỡi dân Ta, hãy nghe Ta,Hỡi nước Ta, hãy lắng tai nghe TaVì Kinh Luật sẽ ra từ TaVà sự công bình của Ta sẽ là ánh sáng cho các dân.
4 “Escute, meu povo, dê atenção ao que eu vou dizer: Vou dar as minhas e os meus mandamentos serão uma luz para os povos.
5 Sự công chính của Ta sẽ nhanh chóng đến gần,Sự cứu rỗi của Ta xuất hiện,Cánh tay Ta sẽ cai trị các dân.Các hải đảo trông đợi TaVà chúng hy vọng nơi cánh tay Ta.
5 Virei logo salvá-los; está chegando o dia da minha vitória, e eu governarei todos os povos. Nações distantes esperam por mim e confiam em mim para protegê-las.
6 Hãy ngước mắt lên các tầng trờiVà nhìn xem quả đất phía dưới.Vì các tầng trời sẽ tan đi như khóiVà đất sẽ cũ mòn như chiếc áo;Những người sống trên đất cũng sẽ chết như vậy.Nhưng sự cứu rỗi Ta sẽ còn đời đờiVà sự công chính của Ta sẽ không chấm dứt.
6 Olhem para o céu, lá em cima, olhem para a terra, aqui embaixo. O céu desaparecerá como fumaça, a terra ficará gasta como uma roupa velha, e os seus moradores morrerão como se fossem moscas. Mas a minha vitória será total, o meu poder durará para sempre.
7 Hỡi những người biết sự công chính,Dân có Kinh Luật của Ta trong lòng, hãy nghe Ta.Đừng sợ người ta trách móc,Chớ hoảng hốt vì chúng sỉ vả các ngươi.
7 “Escutem, vocês que sabem o que é direito, que têm a minha lei no seu coração! Não fiquem com medo quando forem ofendidos, não se aborreçam quando os outros zombarem de vocês.
8 Vì sâu sẽ cắn họ như cắn áo,Mọt sẽ gặm chúng như gặm len.Nhưng sự công chính của Ta sẽ còn lại mãi mãiVà sự cứu rỗi Ta còn đến muôn đời.”
8 Pois eles desaparecerão como uma roupa de lã destruída pelas traças. Mas a minha vitória será total, o meu poder durará para sempre.”
9 Hỡi cánh tay CHÚA, hãy thức dậy,Thức dậy để mặc lấy năng lực.Hãy thức dậy như ngày xưa,Như các thời cổ đại.Chẳng phải Ngài là Đấng sẽ chặt Ra-háp ra từng mảnh,Đã đâm quái vật đó sao?
9 Acorda, ó Senhor , acorda! Salva-nos com o teu grande poder, como fizeste antigamente, no tempo dos nossos antepassados. Tu cortaste Raabe em pedaços, tu mataste aquele monstro do mar.
10 Chẳng phải Ngài là Đấng làm cho biển và nước vực sâu khô cạn sao?Ngài đã làm vực thẳm của biển cảThành con đườngCho những người được cứu chuộc đi qua.
10 Tu fizeste o mar secar, secaste as águas profundas; no meio do mar, abriste um caminho para que por ele passasse o povo que salvaste.
11 Những người được chuộc của CHÚA sẽ trở vềVà ca hát đi vào Si-ôn.Sự vui mừng đời đời ở trên đầu họ.Họ sẽ được hân hoan, vui mừng.Buồn rầu, than vãn sẽ tránh xa.
11 Aqueles a quem o Senhor salvar voltarão para casa, voltarão cantando para Jerusalém e ali viverão felizes para sempre. A alegria e a felicidade os acompanharão, e não haverá mais tristeza nem choro.
12 “Ta, chính Ta là Đấng an ủi các ngươi.Ngươi là ai mà sợ loài người hay chết?Hay sợ con cái loài người được sinh ra như cỏ?
12 O Senhor diz ao seu povo: “Eu, eu mesmo, lhes dou forças. Então, por que vocês têm medo de pessoas, de seres mortais que não duram mais do que a palha?
13 Ngươi đã quên CHÚA, Đấng tạo ra ngươi.Ngài đã giương các tầng trời,Lập nền quả đấtNhưng suốt ngày ngươi cứ sợCơn giận dữ của kẻ áp bứcKhi nó định hủy diệt.Nhưng cơn giận dữ của kẻ áp bức ở đâu?
13 Por que esquecem o Senhor , o seu Criador, aquele que estendeu o céu e firmou a terra? Por que estão sempre com medo de inimigos cruéis, que os perseguem e estão prontos para destruí-los? Que pode fazer a fúria deles contra vocês?
14 Kẻ tù đày sẽ chóng được giải cứu,Sẽ không chết nơi ngục tốiCũng không thiếu lương thực.
14 Logo os prisioneiros serão postos em liberdade; eles não morrerão, nem passarão fome.
15 Vì chính Ta là CHÚA, Đức Chúa Trời ngươi,Đấng làm biển động và sóng gầm thét.CHÚA Vạn Quân là danh Ngài.
15 “Eu, o Senhor , sou o Deus de vocês. Eu agito o mar e faço as suas ondas rugirem. O meu nome é
16 Ta đã đặt lời Ta trong miệng ngươi,Giấu ngươi dưới bóng bàn tay Ta;Giương các tầng trời,Lập nền quả đấtVà phán với Si-ôn rằng: ‘Ngươi là dân Ta.’”
16 Eu dei a vocês os meus ensinamentos e com a minha mão eu os protejo. Eu, que estendi o céu e firmei a terra, digo aos moradores de Jerusalém: ‘Vocês são o meu povo.’ ”
17 Hãy thức dậy, thức dậy,Hởi Giê-ru-sa-lem, hãy đứng lên.Ngươi là người đã uống sayChén thịnh nộ từ tay CHÚA.Ngươi đã uống say tới cặn của chén,Là chén làm cho ngả nghiêng.
17 Acorde, Jerusalém, acorde e levante-se! O você bebeu tudo e ficou bêbada.
18 Trong vòng tất cả con cái mà Giê-ru-sa-lem đã sinh ra,Không đứa nào hướng dẫn nó.Trong số tất cả con cái mà Giê-ru-sa-lem đã nuôi dưỡng,Không đứa nào cầm tay dắt nó.
18 De todos os seus filhos, de todos aqueles que você criou, não houve um só que pegasse você pela mão e que a ajudasse a andar.
19 Hai điều này đã đổ xuống trên ngươi,Ai sẽ chia buồn với ngươi?Sự tan nát và hủy hoại, đói kém và gươm giáo,Ai sẽ an ủi ngươi?
19 Você sofreu duas desgraças: a sua terra foi arrasada pelos inimigos, e a guerra e a fome mataram os seus moradores. Quem tem pena de você? Quem procura consolá-la?
20 Con cái ngươi đã ngất xỉu,Nằm ở khắp các đầu đườngNhư nai tơ bị mắc trong lưới,Đầy cơn thịnh nộ của CHÚACùng sự quở trách của Đức Chúa Trời ngươi.
20 Os seus moradores desmaiam de fome e estão caídos nas esquinas das ruas; são como carneiros selvagens presos nas redes dos caçadores. Eles caíram por causa da ira do por causa do castigo do seu Deus.
21 Vậy, hỡi kẻ khốn cùng, hãy nghe đây,Hỡi người say nhưng không phải do rượu,
21 Pobre Jerusalém! Você está bêbada, mas não por ter bebido vinho.
22 CHÚA, Đức Chúa Trời ngươi phán như vầy:“Ta sẽ bênh vực dân Ta.Nầy, Ta sẽ lấy khỏi tay ngươiCái chén làm nghiêng ngả.Ngươi sẽ không còn uống thêm chén nào nữa,Là chén thịnh nộ của Ta.
22 Agora, escute o que diz o seu Senhor e Deus, aquele que vai defender a causa do seu povo. O “Agora estou tirando das suas mãos o copo cheio da minha ira, o copo que fez você ficar bêbada. Você nunca mais beberá dele.
23 Ta sẽ đặt chén ấy trong tay những kẻ hành hạ ngươi,Tức là những người nói với ngươi rằng:Hãy quỳ xuống để ta bước quaVà ngươi đã lấy lưng làm như đất,Như đường đi cho họ đi qua.”
23 Darei esse copo aos seus inimigos, aos que lhe disseram: ‘Deite-se no chão, que vamos pisar em cima de você.’ Você se deitou, e eles a pisaram, como se você fosse o pó da rua.”

Ler em outra tradução

Comparar com outra

Estude este capítulo no WhatsApp

Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Isaías 51, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.