Gênesis 43

New Vietnamese Bible (VIETNVB) vs NTLH

Sair da comparação
NTLH Nova Tradução na Linguagem de Hoje 2000
1 Nạn đói vẫn còn trầm trọng.
1 A fome continuava muito grande em Canaã.
2 Khi đã ăn hết lúa từ Ai-cập đem về, cha họ lại bảo: “Các con hãy trở xuống và mua một ít lương thực cho chúng ta.”
2 Quando as famílias de Jacó e dos seus filhos comeram todo o mantimento que tinha sido trazido do Egito, Jacó disse aos filhos: — Voltem ao Egito e comprem mais um pouco de alimento para nós.
3 Nhưng Giu-đa thưa với cha: “Người ấy đã nghiêm cấm chúng con: ‘nếu em các ngươi không đi theo các ngươi thì các ngươi sẽ chẳng bao giờ gặp mặt ta nữa.’
3 Mas Judá lembrou: — Aquele homem deixou bem claro que, se o nosso irmão não fosse junto com a gente, ele não nos receberia.
4 Nếu cha cho em cùng đi với chúng con, chúng con sẽ xuống mua lương thực cho cha và gia đình.
4 Se o senhor deixar que ele vá, nós iremos comprar mantimentos para o senhor.
5 Nhưng nếu cha không cho em đi thì chúng con sẽ không xuống đó đâu vì ông đó đã bảo chúng con: ‘Nếu em các ngươi không xuống đây với các ngươi thì các ngươi sẽ không bao giờ thấy mặt ta nữa.’”
5 Se o senhor não deixar, não iremos. Aquele homem disse assim: “Eu só os receberei se vocês trouxerem o seu irmão mais novo.”
6 Y-sơ-ra-ên hỏi: “Tại sao các con khai còn một đứa em nữa mà gây rối cho cha?”
6 Jacó disse: — Por que vocês fizeram cair tamanha desgraça sobre mim? Por que foram dizer ao tal homem que tinham outro irmão?
7 Họ đáp: “Ông ấy tra hỏi chúng con thật kỹ về chúng con và về gia đình ta: cha các ngươi còn sống không? Các ngươi còn anh em nào nữa không? Chúng con chỉ trả lời câu hỏi của ông ấy. Chúng con đâu có biết ông ấy lại bảo: ‘Hãy đem em xuống đây.’”
7 Eles responderam: — Aquele homem fez muitas perguntas a respeito de nós e da nossa família. Ele perguntou: “O pai de vocês ainda está vivo? Vocês têm mais um irmão?” Nós tivemos de responder às perguntas dele. Por acaso podíamos adivinhar que ele ia pedir que levássemos o nosso irmão?
8 Giu-đa thưa cùng Y-sơ-ra-ên cha mình: “Xin cha cho cậu em đi với con thì chúng con sẽ ra đi tức khắc, ngõ hầu chúng ta tức là cha và con cái chúng con đều được sống và khỏi chết.
8 Aí Judá disse ao pai: — Deixe o rapaz por minha conta. Nós partiremos agora mesmo, e assim ninguém morrerá: nem nós, nem o senhor, nem os nossos filhinhos.
9 Chính con xin bảo đảm an toàn cho em; bản thân con xin chịu trách nhiệm về em trước mặt cha. Nếu con không đem em nó về cho cha và đặt nó tại đây trước mặt cha thì con xin hứng chịu sự quở trách của cha suốt đời.
9 Eu fico responsável por Benjamim. Se eu não o trouxer de volta são e salvo, o senhor poderá pôr a culpa em mim. Serei culpado diante do senhor pelo resto da minha vida.
10 Thật ra nếu chúng ta không lần lửa thì đã đi và về được hai chuyến rồi.”
10 Se não tivéssemos demorado tanto, já teríamos ido e voltado duas vezes.
11 Lúc ấy Y-sơ-ra-ên, cha họ mới bảo: “Nếu việc chẳng đặng đừng thì các con hãy làm điều này. Hãy mang theo trong bao các phẩm vật cho người ấy: một ít nhũ hương và mật ong, hương liệu và nhựa thơm, hạt dẻ và hạnh nhân.
11 Então o pai disse: — Já que não existe outro jeito, façam o seguinte: ponham nos sacos alguns presentes para aquele homem. Levem os melhores produtos desta terra: um pouco de bálsamo, um pouco de mel,
12 Cũng hãy đem theo số bạc gấp đôi số trước vì các con phải trả lại bạc người ta để trong miệng bao của các con. Có lẽ đó là một sự lầm lẫn.
12 Levem também o dinheiro em dobro, pois vocês precisam devolver a quantia que foi encontrada na boca dos sacos de mantimentos que vocês trouxeram. Deve ter havido algum engano.
13 Hãy dẫn em các con theo và trở xuống gặp người ấy ngay.
13 Levem o irmão de vocês e vão depressa encontrar-se outra vez com aquele homem.
14 Cầu xin Đức Chúa Trời toàn năng cho các con được ơn thương xót trước mặt người ấy để tha đứa con kia và cho Bên-gia-min về với các con. Còn phần cha, nếu phải mất đứa con thì đành phận vậy!”
14 Que o Deus Todo-Poderoso faça com que ele tenha pena de vocês e deixe que o seu outro irmão e Benjamim voltem para casa. Quanto a mim, se tenho de perder os meus filhos, o que é que eu posso fazer?
15 Vậy các anh em đem theo tặng phẩm và số bạc gấp đôi cùng với Bên-gia-min lên đường xuống Ai-cập và yết kiến Giô-sép.
15 Assim, os filhos de Jacó pegaram os presentes e o dinheiro em dobro e foram para o Egito, levando Benjamim. Logo que chegaram, foram falar com José.
16 Vừa khi thấy Bên-gia-min xuống với anh em. Giô-sép bảo quản gia: “Hãy đưa những người này vào nhà ta, làm thịt một gia súc và dọn bữa ăn vì trưa nay họ sẽ ăn với ta.”
16 Quando José viu que Benjamim estava com eles, disse ao funcionário administrador da sua casa: — Leve esses homens até a minha casa. Mate um animal e prepare tudo, pois eles vão almoçar comigo hoje, ao meio-dia.
17 Quản gia làm theo mọi điều Giô-sép đã dặn và đưa các anh em vào nhà Giô-sép.
17 O administrador cumpriu a ordem e levou os irmãos até a casa de José.
18 Thấy mình bị đưa vào nhà Giô-sép, các anh em hoảng sợ thầm nghĩ: “Chúng ta bị giải vào đây vì số bạc đã để lại trong bao chúng ta lần thứ nhất. Ông ấy muốn tấn công chúng ta, đàn áp chúng ta, bắt chúng ta làm nô lệ và cướp lừa của chúng ta.”
18 Quando chegaram lá, eles ficaram com medo e disseram uns aos outros: — Trouxeram a gente para cá por causa do dinheiro que da outra vez foi colocado de volta nos sacos de mantimentos. Com certeza eles vão nos atacar, vão tomar de nós os nossos jumentos e obrigar a gente a trabalhar como escravos.
19 Vậy họ đến gần quản gia của Giô-sép và thưa với ông tại ngoài cửa:
19 Assim que chegaram à porta da casa, disseram ao administrador:
20 “Thưa chúa, chúng tôi đã đến đây lần thứ nhất để mua lương thực.
20 — Por favor, senhor! Já viemos aqui uma vez para comprar mantimentos.
21 Nhưng khi đến nơi dừng lại để qua đêm, chúng tôi dỡ các bao ra thì đều thấy số bạc để nơi miệng bao mình cân nặng đúng y như cũ. Đây chúng tôi có mang theo số bạc đó.
21 Porém, quando chegamos ao lugar onde íamos passar a noite, abrimos os sacos de mantimentos, e na boca dos sacos cada um encontrou o seu dinheiro, sem faltar nada. Trouxemos esse dinheiro de volta
22 Chúng tôi cũng mang thêm số bạc để mua lương thực nữa, không biết ai để bạc đó trong bao chúng tôi.”
22 e também temos mais dinheiro aqui para comprar mantimentos. Nós não sabemos quem colocou o dinheiro nos sacos de mantimentos.
23 Quản gia đáp: “Mọi việc đều tốt cả. Đừng sợ chi! Đức Chúa Trời của các anh và Đức Chúa Trời của thân phụ các anh đã để bảo vật trong bao các anh. Còn bạc các anh tôi đã nhận đủ.” Rồi quản gia đưa Si-mê-ôn đến cùng anh em.
23 Aí o administrador respondeu: — Fiquem tranquilos, não tenham medo. O Deus de vocês e do seu pai deve ter posto o dinheiro nos sacos de mantimentos para vocês, pois eu recebi o dinheiro que pagaram. O administrador trouxe Simeão ao lugar onde eles estavam.
24 Quản gia đưa các anh em vào nhà Giô-sép, đem nước cho họ rửa chân và đem cỏ cho lừa ăn.
24 Depois os levou para dentro da casa, deu água para lavarem os pés e também deu de comer aos jumentos.
25 Các anh em sắp xếp tặng phẩm chờ đợi trưa Giô-sép về vì được nghe sẽ phải ăn trưa tại đây.
25 Os irmãos prepararam os presentes que iam entregar a José quando ele viesse ao meio-dia, pois já sabiam que iam almoçar ali.
26 Khi Giô-sép về đến nhà, anh em dâng cho ông các tặng phẩm họ đã đem đến rồi sấp mình xuống đất trước mặt ông.
26 Quando José chegou à sua casa, eles lhe entregaram os presentes que haviam trazido, se ajoelharam na frente dele e encostaram o rosto no chão.
27 Giô-sép chào hỏi họ và tiếp: “Vị cha già các ngươi từng nói đến có mạnh giỏi không? Cụ còn sống không?”
27 José perguntou como iam passando e depois disse: — E como vai o pai de vocês, aquele velho de quem me falaram? Ele ainda vive?
28 Họ đáp: “Kẻ tôi tớ chúa là cha chúng tôi vẫn còn sống và mạnh khỏe.” Họ lại cúi đầu sấp mình xuống đất.
28 Eles responderam: — O seu humilde criado, o nosso pai, ainda está vivo e vai passando bem.
29 Ngước mắt nhìn, Giô-sép thấy Bên-gia-min em ruột mình, con của mẹ mình, liền hỏi: “Đó có phải là người em út mà các ngươi đã nói không?” Ông tiếp: “Con ơi, cầu xin Đức Chúa Trời ban ơn cho con!”
29 José olhou em volta e, quando viu Benjamim, o seu irmão por parte de pai e mãe, disse: — É esse o irmão mais moço de vocês, de quem me falaram? Que Deus o abençoe, meu filho!
30 Khi thấy em mình, Giô-sép rất cảm động nên vội vã bước ra ngoài tìm chỗ để khóc. Ông vào phòng riêng để khóc.
30 Ao ver o seu irmão, José ficou tão emocionado, que teve vontade de chorar. Então foi para o seu quarto e ali chorou.
31 Sau khi rửa mặt, Giô-sép bước ra tự chủ được và ra lịnh: “Dọn ăn đi.”
31 Quando conseguiu se controlar, lavou o rosto e saiu. E disse: — Sirvam o almoço.
32 Người ta dọn cho Giô-sép ăn riêng, còn các anh em cũng ăn riêng và người Ai-cập thường ăn với Giô-sép cũng ăn riêng nữa, vì người Ai-cập ghê tởm người Do Thái nên không thể nào ăn chung được.
32 Serviram o almoço a José numa mesa e aos seus irmãos em outra. E havia ainda outra mesa para os egípcios que estavam ali, pois estes, por motivos religiosos, eram proibidos de comer junto com os israelitas.
33 Các anh em được xếp ngồi trước mặt Giô-sép theo thứ tự tuổi tác từ anh cả đến em út. Họ ngạc nhiên nhìn nhau.
33 Os irmãos se sentaram de frente para José. Eles foram colocados por ordem de idade, desde o mais velho até o mais moço. Quando viram isso, eles começaram a olhar uns para os outros, muito admirados.
34 Khi dọn các món ăn bầy trước mặt mình cho các anh em, Giô-sép cho Bên-gia-min nhiều gấp năm phần của các người khác. Vậy họ tiệc tùng ăn uống vui vẻ với Giô-sép.
34 Serviram a eles da mesma comida que foi servida a José e deram a Benjamim cinco vezes mais comida do que aos outros. E eles beberam com José até ficarem alegres.

Ler em outra tradução

Comparar com outra

Estude este capítulo no WhatsApp

Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Gênesis 43, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.