Efésios 6
New Vietnamese Bible (VIETNVB) vs AAI
1 Hỡi các con cái, hãy vâng lời cha mẹ trong Chúa, vì như thế là phải đạo.
1 Kek kwananowar, kwa i Regah natunatun imih ef ana gewasin i hinat tamat fanah kwanabosiyasiyar.Paul Tychicus ebiyafar|alt="Paul sending Tychicus" src="CN02071B.TIF" size="span" loc="Eph 6.1" copy="©1978 David C. Cook Publishing Co." ref="6.1"
2 “Hãy hiếu kính cha mẹ”, đó là điều răn thứ nhất có kèm theo lời hứa:
2 Hinat tamat kwanakakafiyih, anayabin nati i o baiyunen tur wantoro’ot ana omatanen auman.
3 “Để con được phước và sống lâu trên đất.”
3 Saise a yawas i boro baigegewasin awan nakaratan, naatu a yawas iti tafaramamaim boro manin na’in kwanama kwaniyasisir.
4 Hỡi những người làm cha, đừng chọc tức con cái mình nhưng hãy dưỡng dục chúng theo kỷ luật và giáo huấn của Chúa.
4 Kwa kek hinah tamah, a kek men kwanagam kwana’uwih kwanikwaniyih yah naso’aramih. Baise Kirisiyan ana bai’obaiyenamaim baikwatutunen kwanitih, naatu Regah ana turamaim kwanabonawiyih.
5 Hỡi những người tôi tớ, hãy vâng lời chủ mình ở thế gian với thái độ kính sợ run rẩy, và lòng chân thật như vâng phục Chúa Cứu Thế.
5 Akirwairafi a tur ao’owen, a orot ukwarih tafaramamaim tekakaifi i kwanabiruwih naatu kwanakakafiyih fanah kwanab. Naatu dogor tutufin etei yasisir auman isah kwanabow, Keriso isan kwatabowabow na’atube.
6 Không phải chỉ vâng phục trước mặt chủ, làm việc chỉ để lấy lòng người mà thôi, nhưng hãy như người tôi tớ của Chúa Cứu Thế, hết lòng làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời.
6 Men ti’i’iti ana veya akisin iti baifa’i isan kwanisnubanub kwanabowamih, baise kwa i Keriso ana akirwairafih imih dogor tutufin etei God ana kok kwanabow.
7 Hãy phục vụ với thiện chí như phục vụ Chúa chứ không phải cho người ta,
7 Kwanabow sunusunub a naniyan tutufin etei, yasisir auman kwabow, kwa i men orot isan kwabowabow, baise Regah isan kwabowabow.
8 vì anh chị em biết rằng, bất luận tôi tớ hay tự chủ, hễ ai làm việc tốt đẹp, đều sẽ được Chúa tưởng thưởng.
8 Anayabin kwa kwaso’ob orot babin etei bowabow gewasin tebowabow isan, Regah boro hai siwar nitih, basit o akirwairafi, o roufamen orot a siwar i boro inab.
9 Hỡi các người chủ, anh chị em cũng hãy đối xử với tôi tớ như thế, đừng đe dọa, vì biết rằng họ và anh chị em có cùng một Chủ trên trời, Ngài không thiên vị ai cả.
9 Kwa orot ukwarih auman ef ta’imon kwanasinaf, akirwairafih isah kwanigewasin naatu men kwanao birubiruwih. Kwanaso’ob kwa a akirwairafih bairi a Regah i ta’imon maramaim ema’am, naatu i orot babin etei ana fofoninamaim ebibatiyih.
10 Sau hết, anh chị em hãy mạnh mẽ trong Chúa và trong sức mạnh quyền năng của Ngài.
10 Taitu tuwai’inah, tur yomanin i iti. Regah wanawanan kwanarun ana fair kwanab, naatu i ana fairane kwa a fair kwanawowab nara’at.
11 Hãy trang bị toàn bộ vũ khí của Đức Chúa Trời để anh chị em có thể đứng vững chống cự lại các mưu kế của quỷ vương.
11 Baiyow ana tafafaren sawar etei God bit i kwana’abur, saise Demon Mowan ana baifuwen nabikubibiruw karam boro kwanawasatan.
12 Vì chúng ta chiến đấu, không phải với người phàm, nhưng chống lại những kẻ lãnh đạo, giới thẩm quyền, và những bậc quyền thế của thế giới tối tăm này cùng những thần linh gian ác trên các tầng trời.
12 Anayabin it i men iti tafaram orot babin afa bairi tabiyowamih, baise tounamatar kakafih gagub wanawanan tema’am bairi tabiyow. Demon hai nabatanayah, hai ukwarih, naatu afiy kakafih fairih iti tafaram ana guguminamaim tema’am bairi tabiyow.
13 Vì thế, hãy nhận lấy toàn bộ vũ khí của Đức Chúa Trời để anh chị em có thể chống cự nổi trong ngày gian khổ và sau khi thực hiện mọi sự, anh chị em đứng vững.
13 Imih God ana baibiyow sawar bounaika kwana’abur, imaibo Demon ana veya kakafin nan natitit, kwa i karam boro rakit ana ahay ana waf kwanahaiw. Naatu kwaniyow nan yomanin kwana’a’asa’ub ufunamaim boro men ura au’uf kwanabat.
14 Vậy, anh chị em hãy đứng lên; nai nịt bằng chân lý, mặc áo giáp công chính,
14 Imih kwanabatkikin, turobe kwanab naiw a kikiramih kwanakik. Yawas mutufurin kwanab a beromih dogor kwanisinfafar,
15 mang vào chân giày sẵn sàng của Phúc Âm bình an.
15 naatu tufuw ana tur gewasin a baibiyonamih kwaniyoun kwanabat gewas kwanitfufun auna kwanan.
16 Luôn luôn lấy đức tin làm thuẫn, nhờ đó anh chị em có thể dập tắt các tên lửa của kẻ ác;
16 Mar etei baitumatum a beromih kwanab, anayabin nati beromaim Demon Mowan ana ahay narob wairaf auman nitakir hinanununuw karam boro kwanasirabun.
17 đội mão cứu rỗi, cầm gươm Thánh Linh là Lời Đức Chúa Trời.
17 God yawas bit i kwanab a kowasamih arib kwanayara’ah, naatu God ana tur, Anun Kakafiyin bit i a kaiyomih kwanab.
18 Bằng mọi lời cầu nguyện và nài xin, hãy luôn luôn cầu nguyện trong Đức Thánh Linh. Để đạt mục đích ấy, hãy tỉnh thức và hết sức kiên trì, cũng hãy cầu thay cho tất cả các thánh đồ.
18 Sawar iti etei i yoyobanamaim kwanasinaf, God ana baibais isan kwanifefeyan, Anun Kakafiyin ebiyuni na’atube. Naatu sawar ta ta hinamamatar hai veya’amaim kwanayoyoban, mata toniwa’an, a yoyoban men kwanihamiy, mar etei God ana sabuw isah kwanayoyoban.
19 Xin cầu thay cho tôi để khi tôi lên tiếng, Chúa ban cho lời phải nói, và cho tôi được bạo dạn công bố huyền nhiệm Phúc Âm.
19 Ayu auman isou kwanayoyoban, saise binan isan ana bobogaigiwas ana veya, God ana tur isou nirerereb anabinan, na’atube Tur Gewasin ana kirikirifot anaorereb natit, men ana birumih.
20 Vì tôi là sứ giả của Phúc Âm trong vòng xiềng xích, nên xin cầu thay cho tôi mạnh dạn công bố đúng như tôi phải nói.
20 Ayu i God ana bowayan orot iyafaru atit Tur Gewasin abibinan isan dibur ama’am. Baise abifefeyani isou kwanayoyoban saise fair anab Tur Gewasin ana binan sabuw hinanowar.
21 Ty-chi-cơ, người anh em thân yêu và người phục vụ Chúa trung tín, sẽ cho anh chị em hay mọi tin tức để anh chị em biết tình hình và công việc của tôi.
21 Tychicus, taituwa ata yabow orot, naatu Regah ana akirwairafin orot gewasin ta, i nanan ana veya ayu abisa asisinaf ana tur etei boro i nao kwananowar kwanaso’ob.
22 Tôi phái anh ấy đến với anh chị em vì mục đích này, để anh chị em biết được tình trạng chúng tôi và để anh ấy khích lệ lòng anh chị em.
22 Anayabin nati isan kwa isa abiyafar, aki abisa iti’imaim asisinaf nao kwananowar naatu koufair nit.
23 Nguyện xin Đức Chúa Trời là Cha và Chúa Cứu Thế Giê-su ban cho anh chị em bình an, tình yêu thương cùng với đức tin.
23 Tamat God naatu ata Regah Jesu Keriso kwa Kirisiyan baitumatumayah etei tufuw, yabow naatu baitumatum auman nit kwanama.
24 Nguyện xin Đức Chúa Trời ban ân sủng cho tất cả những người yêu kính Chúa Cứu Thế Giê-su, Chúa chúng ta bằng một tình yêu bất diệt.
24 God ana bosiyasiyar kwa iyab ata Regah Jesu Keriso kwabiyabuw, nati yabow isa nama wanatowan. Amen.
Atalhos do teclado
- Capítulo anterior←
- Próximo capítulo→
- Versículo anteriork
- Próximo versículoj
- Limpar seleçãoEsc
- Esta ajuda?
Estude este capítulo no WhatsApp
Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Efésios 6, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.