Apocalipse 19

New Vietnamese Bible (VIETNVB) vs NTLH

Sair da comparação
NTLH Nova Tradução na Linguagem de Hoje 2000
1 Sau các việc này, tôi nghe một tiếng hô lớn của một đám rất đông trên trời:“Ha-lê-lu-gia!Sự cứu rỗi, vinh quang và quyền năng đều thuộc về Đức Chúa Trời chúng ta.
1 Depois disso ouvi no céu uma voz forte como se fosse a de uma grande multidão, que dizia: —
2 Vì sự phán xét của Ngài thực công minh và chân thật,Ngài đã kết án con đại kỹ nữTừng làm ô uế thế gian với sự gian dâm của nóVà Ngài báo trả cho nó về máu các đầy tớ Ngài mà nó đã đổ ra!”
2 Os seus julgamentos são verdadeiros e justos. Ele condenou a famosa prostituta que corrompia a terra com a sua imoralidade. Deus a castigou porque ela havia matado os servos dele.
3 Họ lại hô lên:“Ha-lê-lu-gia!Khói của nó bay lên mãi cho đến đời đời!”
3 E a multidão disse outra vez: — Aleluia! A fumaça do incêndio da grande cidade sobe para todo o sempre.
4 Hai mươi bốn trưởng lão và bốn sinh vật quỳ xuống thờ lạy Đức Chúa Trời đang ngự trên ngai, tung hô:“A-men, Ha-lê-lu-gia!”
4 Então os vinte e quatro líderes e os quatro seres vivos caíram de joelhos e adoraram a Deus, que estava sentado no trono, e disseram: —
5 Một tiếng nói từ trên ngai bảo:“Hãy ca ngợi Đức Chúa Trời chúng ta,Tất cả các người là đầy tớ của Ngài,Là những kẻ kính sợ Ngài,Cả lớn và nhỏ!”
5 Então veio do trono o som de uma voz, que dizia: — Louvem o nosso Deus, todos os seus
6 Lúc ấy, tôi nghe tiếng ầm ĩ như của một đám người đông đảo, như tiếng ầm ầm của nhiều thác nước, như tiếng sấm vang động dữ dội rằng:“Ha-lê-lu-giaVì Chúa là Đức Chúa Trời Toàn Năng của chúng ta cai trị!
6 Aí ouvi um som que parecia a voz de uma grande multidão, como o barulho de uma grande cachoeira ou como fortes trovões, que dizia: —
7 Chúng ta hãy hân hoan mừng rỡVà tôn vinh Ngài!Vì lễ cưới Chiên Con đã đếnVà cô dâu Ngài đã chuẩn bị sẵn sàng.
7 Fiquemos alegres e felizes! Louvemos a sua glória ! Porque chegou a hora da festa de casamento do Cordeiro, e a noiva já se preparou para recebê-lo.
8 Nàng được cấp áo vải gai mịn rực rỡ và trong sạchĐể mặc vào!”Vải gai mịn là các việc công chính của các thánh đồ.
8 A ela foi dado linho finíssimo, linho brilhante e puro para se vestir. O linho são as boas ações do povo de Deus.
9 Thiên sứ bảo tôi: “Anh hãy viết: Phước cho những người được mời dự tiệc cưới Chiên Con!” thiên sứ tiếp: “Đây là những lời chân thật của Đức Chúa Trời!”
9 Então o anjo me disse: — Escreva isto: “Felizes os que foram convidados para a festa de casamento do Cordeiro!” E o anjo disse ainda: — São essas as verdadeiras palavras de Deus.
10 Tôi quỳ xuống trước chân thiên sứ để thờ lạy người, nhưng người bảo tôi: “Đừng làm như thế! Tôi chỉ là bạn tôi tớ với anh và với các anh chị em của anh là những người giữ lời chứng của Đức Giê-su. Hãy thờ lạy Đức Chúa Trời! Vì sự làm chứng về Đức Giê-su là tinh thần của các lời tiên tri!”
10 Aí eu me ajoelhei aos pés do anjo para adorá-lo, mas ele me disse: — Não faça isso! Pois eu sou servo de Deus, assim como são você e os seus irmãos que continuam fiéis à verdade revelada por Jesus. Adore a Deus! Pois a verdade revelada por Jesus é a mensagem que o Espírito entrega aos
11 Tôi thấy bầu trời mở ra và kìa, một con ngựa trắng xuất hiện. Đấng cưỡi ngựa tên là Đấng Thành Tín và Chân Thật. Ngài phán xét và chiến đấu cách công minh.
11 Em seguida vi o céu aberto, e apareceu um cavalo branco. O seu cavaleiro se chama Fiel e Verdadeiro. Ele julga e combate com justiça.
12 Mắt Ngài như ngọn lửa hừng, đầu Ngài đội nhiều mão. Ngài có một danh hiệu ghi trên mình ngoài Ngài ra không ai biết được.
12 Os seus olhos eram como chamas de fogo, e ele tinha muitas coroas na cabeça. Havia escrito nele um nome que ninguém conhece, a não ser ele mesmo.
13 Ngài mặc áo nhúng trong huyết và được xưng danh là Lời Đức Chúa Trời.
13 A sua capa estava encharcada de sangue. Ele se chama “A Palavra de Deus”.
14 Các quân đội trên trời đều theo Ngài, cưỡi ngựa trắng và mặc áo bằng vải gai mịn trắng trong sạch.
14 Os exércitos do céu o seguiam, montados em cavalos brancos e vestidos de linho branco e puro.
15 Từ miệng Ngài thò ra một lưỡi gươm sắc bén mà Ngài dùng để đánh phạt các dân. Ngài sẽ cai trị họ bằng cây gậy sắt. Ngài đạp nho trong máy ép nho chứa rượu thịnh nộ mãnh liệt của Đức Chúa Trời Toàn Năng.
15 Da sua boca saía uma espada afiada, com a qual ele vencerá as nações. Ele as governará com uma barra de ferro e pisará as uvas no tanque do furor da ira do Deus Todo-Poderoso.
16 Trên áo và trên đùi Ngài có ghi danh hiệu:VUA CỦA CÁC VUA và CHÚA CỦA CÁC CHÚA.
16 Na capa e na perna dele estava escrito este nome: “Rei dos reis e Senhor dos senhores.”
17 Tôi thấy một thiên sứ đứng trong mặt trời lớn tiếng gọi tất cả các loài chim chóc bay giữa bầu trời: “Hãy đến tập họp để dự đại tiệc của Đức Chúa Trời,
17 Então vi um anjo que estava de pé sobre o sol. Ele gritou com voz forte, dizendo o seguinte para todas as aves que estavam voando bem alto: — Venham e se ajuntem para o grande banquete de Deus!
18 để ăn thịt các vua, các tướng lĩnh, các người quyền thế, thịt ngựa và kỵ sĩ, cùng thịt của mọi người tự do và nô lệ, lớn và nhỏ.”
18 Venham e comam a carne de reis, de generais e de soldados, de cavalos e de cavaleiros e de todas as pessoas, sejam escravas ou livres, sejam importantes ou humildes.
19 Tôi thấy con thú, các vua của thế gian và các quân đội họ tập trung để chiến tranh với Đấng cưỡi ngựa và quân đội Ngài.
19 Depois vi o monstro e os reis do mundo inteiro e os seus exércitos reunidos para lutar contra aquele que estava montado no cavalo e contra o seu exército.
20 Nhưng con thú bị bắt sống cùng với tiên tri giả là kẻ đã làm các dấu lạ trước mặt nó để lừa gạt những kẻ đã nhận dấu ấn của con thú và những kẻ thờ lạy thần tượng nó. Cả hai đều bị quăng sống xuống hồ lửa diêm sinh cháy phừng.
20 O monstro foi feito prisioneiro junto com o falso profeta , que havia feito coisas espantosas na sua presença. Com aquelas coisas ele havia enganado os que tinham o sinal do monstro e os que haviam adorado a imagem do monstro. O monstro e o falso profeta foram jogados vivos no lago de fogo que queima com enxofre .
21 Những người còn lại đều bị giết do lưỡi gươm ra từ miệng của Đấng cưỡi ngựa và tất cả chim chóc đều ăn thịt họ no nê.
21 Os seus exércitos foram mortos pela espada que saía da boca daquele que estava montado no cavalo branco. E todas as aves comeram da carne deles até não quererem mais.

Ler em outra tradução

Comparar com outra

Estude este capítulo no WhatsApp

Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Apocalipse 19, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.