2 Reis 6

New Vietnamese Bible (VIETNVB) vs ARA

Sair da comparação
ARA Almeida Revista e Atualizada 1993
1 Khi ấy các tiên tri nói với Ê-li-sê: “Xin thầy xem đấy, nơi chúng con ngồi nghe thầy dạy thật là chật hẹp so với số người của chúng con.
1 Disseram os discípulos dos profetas a Eliseu: Eis que o lugar em que habitamos contigo é estreito demais para nós.
2 Xin thầy cho chúng con xuống mé sông Giô-đanh, mỗi người đốn một cây, rồi cất tại đó một chỗ ở cho chúng ta.”Ông đáp: “Thì làm như vậy đi.”
2 Vamos, pois, até ao Jordão, tomemos de lá, cada um de nós uma viga, e construamos um lugar em que habitemos. Respondeu ele: Ide.
3 Một người trong đám họ nói: “Xin thầy đi với các tôi tớ thầy.”Ông đáp: “Ta sẽ đi.”
3 Disse um: Serve-te de ires com os teus servos. Ele tornou: Eu irei.
4 Vậy ông đi với họ.Khi đến mé sông Giô-đanh, họ chặt cây xuống.
4 E foi com eles. Chegados ao Jordão, cortaram madeira.
5 Nhưng có một người đang khi đốn cây thì lưỡi rìu sút khỏi cán và văng xuống nước. Người ấy kêu lên: “Thôi rồi, thầy ôi! Chiếc rìu nầy con mượn của người ta.”
5 Sucedeu que, enquanto um deles derribava um tronco, o machado caiu na água; ele gritou e disse: Ai! Meu senhor! Porque era emprestado.
6 Người của Đức Chúa Trời hỏi: “Nó văng xuống chỗ nào?” Người ấy chỉ cho ông chỗ nó văng xuống. Ông chặt một nhánh cây, phóng xuống chỗ ấy, lưỡi rìu bằng sắt bèn nổi lên.
6 Perguntou o homem de Deus: Onde caiu? Mostrou-lhe ele o lugar. Então, Eliseu cortou um pau, e lançou-o ali, e fez flutuar o ferro,
7 Ông bảo: “Hãy cầm lấy nó.” Người ấy liền vói tay ra nắm lấy lưỡi rìu.
7 e disse: Levanta-o. Estendeu ele a mão e o tomou.
8 Thuở ấy vua A-ram giao chiến với Y-sơ-ra-ên. Vua ấy họp bàn với các quan tham mưu của mình rằng: “Ta sẽ đóng trại quân ở chỗ nọ chỗ kia.”
8 O rei da Síria fez guerra a Israel e, em conselho com os seus oficiais, disse: Em tal e tal lugar, estará o meu acampamento.
9 Nhưng người của Đức Chúa Trời sai người đến báo với vua Y-sơ-ra-ên: “Chớ có đi qua chỗ ấy, vì dân A-ram đang phục binh ở đó.”
9 Mas o homem de Deus mandou dizer ao rei de Israel: Guarda-te de passares por tal lugar, porque os siros estão descendo para ali.
10 Vua Y-sơ-ra-ên bèn truyền quân thám báo đến dò xét chỗ người của Đức Chúa Trời đã bảo thì quả đúng như vậy. Hơn một đôi lần Ê-li-sê sai người đến báo như thế. Nhờ vậy vua Y-sơ-ra-ên cứ đề phòng luôn.
10 O rei de Israel enviou tropas ao lugar de que o homem de Deus lhe falara e de que o tinha avisado, e, assim, se salvou, não uma nem duas vezes.
11 Lòng vua A-ram rất bối rối về việc nầy. Vua gọi các quan tham mưu lại và nói: “Chẳng lẽ các ngươi không nói cho ta biết ai trong các ngươi theo phe vua Y-sơ-ra-ên sao?”
11 Então, tendo-se turbado com este incidente o coração do rei da Síria, chamou ele os seus servos e lhes disse: Não me fareis saber quem dos nossos é pelo rei de Israel?
12 Một trong các người ấy tâu: “Tâu bệ hạ, chúa của hạ thần, không ai trong chúng tôi đâu. Nhưng ấy là Ê-li-sê, tiên tri của Y-sơ-ra-ên, người ấy có thể bảo cho vua Y-sơ-ra-ên biết những lời bệ hạ nói trong phòng ngủ của bệ hạ.”
12 Respondeu um dos seus servos: Ninguém, ó rei, meu senhor; mas o profeta Eliseu, que está em Israel, faz saber ao rei de Israel as palavras que falas na tua câmara de dormir.
13 Vua ấy truyền: “Hãy đi và tìm xem người ấy ở đâu. Ta sẽ sai quân đi bắt người ấy.” Người ta tâu với vua: “Ông ấy ở Đô-than.”
13 Ele disse: Ide e vede onde ele está, para que eu mande prendê-lo. Foi-lhe dito: Eis que está em Dotã.
14 Vậy vua A-ram sai một đội quân lớn có kỵ binh và các xe chiến mã kéo đến đó. Họ kéo đến vào ban đêm và vây thành.
14 Então, enviou para lá cavalos, carros e fortes tropas; chegaram de noite e cercaram a cidade.
15 Sáng sớm, một người đầy tớ của người Đức Chúa Trời đi ra và thấy một đạo quân với các ngựa chiến và các xe chiến mã đang vây thành. Người đầy tớ ấy bèn nói: “Chết rồi, thầy ơi! Làm sao bây giờ?”
15 Tendo-se levantado muito cedo o moço do homem de Deus e saído, eis que tropas, cavalos e carros haviam cercado a cidade; então, o seu moço lhe disse: Ai! Meu senhor! Que faremos?
16 Ông đáp: “Đừng sợ. Vì những người ở với chúng ta đông hơn những người ở với chúng.”
16 Ele respondeu: Não temas, porque mais são os que estão conosco do que os que estão com eles.
17 Rồi Ê-li-sê cầu nguyện: “Lạy CHÚA, xin Ngài mở mắt cho đầy tớ của con để nó có thể thấy được.” Vậy CHÚA mở mắt cho đầy tớ ấy, và người ấy thấy trên núi đầy những ngựa lửa và các xe chiến mã bằng lửa đang bao quanh bảo vệ Ê-li-sê.
17 Orou Eliseu e disse: Senhor , peço-te que lhe abras os olhos para que veja. O Senhor abriu os olhos do moço, e ele viu que o monte estava cheio de cavalos e carros de fogo, em redor de Eliseu.
18 Khi quân A-ram xuống tấn công Ê-li-sê, ông cầu nguyện với CHÚA: “Con xin Ngài hãy đánh cho dân nầy bị mù mắt.” Ngài bèn khiến cho dân ấy bị mù mắt y như Ê-li-sê đã cầu xin.
18 E, como desceram contra ele, orou Eliseu ao Senhor e disse: Fere, peço-te, esta gente de cegueira. Feriu-a de cegueira, conforme a palavra de Eliseu.
19 Ê-li-sê nói với họ: “Đây không phải là đường. Đây cũng không phải là thành. Tôi sẽ dẫn các anh đến người mà các anh đang tìm kiếm.” Rồi ông dẫn họ đến Sa-ma-ri.
19 Então, Eliseu lhes disse: Não é este o caminho, nem esta a cidade; segui-me, e guiar-vos-ei ao homem que buscais. E os guiou a Samaria.
20 Vừa khi họ vào trong thành Sa-ma-ri, Ê-li-sê nói: “Lạy CHÚA, bây giờ xin Ngài mở mắt những người nầy để họ thấy.” CHÚA bèn mở mắt họ và họ thấy mình đang ở trong thành Sa-ma-ri.
20 Tendo eles chegado a Samaria, disse Eliseu: Ó Senhor , abre os olhos destes homens para que vejam. Abriu-lhes o Senhor os olhos, e viram; e eis que estavam no meio de Samaria.
21 Khi vua của Y-sơ-ra-ên thấy họ thì nói với Ê-li-sê: “Thưa cha, tôi phải giết chúng không? Tôi phải giết chúng không?”
21 Quando o rei de Israel os viu, perguntou a Eliseu: Feri-los-ei, feri-los-ei, meu pai?
22 Ông đáp: “Đừng. Những người mà vua dùng gươm và cung mà bắt sống, vua có giết họ không? Hãy lấy bánh và nước ra đãi họ ăn uống; rồi thả họ về với chủ họ.”
22 Respondeu ele: Não os ferirás; fere aqueles que fizeres prisioneiros com a tua espada e o teu arco. Porém a estes, manda pôr-lhes diante pão e água, para que comam, e bebam, e tornem a seu senhor.
23 Vậy vua dọn tiệc lớn đãi họ. Sau khi họ ăn và uống rồi, vua cho họ trở về cùng chủ của họ. Vì thế những toán quân A-ram không đi đột kích trong lãnh thổ của Y-sơ-ra-ên nữa.
23 Ofereceu-lhes o rei grande banquete, e comeram e beberam; despediu-os, e foram para seu senhor; e da parte da Síria não houve mais investidas na terra de Israel.
24 Sau đó ít lâu, vua Bên Ha-đát của A-ram huy động toàn bộ quân đội mình. Vua kéo đến Sa-ma-ri và bao vây thành.
24 Depois disto, ajuntou Ben-Hadade, rei da Síria, todo o seu exército, subiu e sitiou a Samaria.
25 Vì thành bị vây khá lâu, nên trong thành có cơn đói kém lớn, đến nỗi một cái đầu lừa giá bán đến hai mươi bốn lượng bạc, còn một phần tư lít phân bồ câu cũng bán được một lượng rưỡi bạc.
25 Houve grande fome em Samaria; eis que a sitiaram, a ponto de se vender a cabeça de um jumento por oitenta siclos de prata e um pouco de esterco de pombas por cinco siclos de prata.
26 Khi ấy vua Y-sơ-ra-ên đi thanh tra trên tường thành, thì có một bà nọ kêu cầu với vua: “Xin hãy giúp đỡ tôi, tâu vua, chúa của tôi.”
26 Passando o rei de Israel pelo muro, gritou-lhe uma mulher: Acode-me, ó rei, meu senhor!
27 Vua đáp: “Nếu CHÚA không giúp đỡ ngươi, thì ta cũng không biết lấy gì để giúp đỡ ngươi bây giờ. Đâu còn gì ở sân đạp lúa hay là trong bàn ép rượu nho đâu?”
27 Ele lhe disse: Se o Senhor te não acode, donde te acudirei eu? Da eira ou do lagar?
28 Rồi vua hỏi bà ấy: “Ngươi kêu van việc gì?”Bà ấy đáp: “Mụ nầy có nói với tôi: ‘Hãy đem con trai chị ra đây. Hôm nay chúng ta ăn thịt nó, rồi ngày mai chúng ta sẽ ăn thịt con trai tôi.’
28 Perguntou-lhe o rei: Que tens? Respondeu ela: Esta mulher me disse: Dá teu filho, para que, hoje, o comamos e, amanhã, comeremos o meu.
29 Vậy chúng tôi có nấu con trai tôi và ăn thịt nó. Ngày hôm sau, tôi bảo mụ ấy: ‘Hãy đưa con chị ra đây để chúng ta ăn thịt nó.’ Nhưng mụ ấy đã đem con trai mình mà giấu đi mất.”
29 Cozemos, pois, o meu filho e o comemos; mas, dizendo-lhe eu ao outro dia: Dá o teu filho, para que o comamos, ela o escondeu.
30 Khi vua nghe những lời bà ấy nói xong thì vua xé áo mình. Vả, khi ấy vua đang đi thanh tra trên tường thành, nên người ta có thể trông thấy vua đang mặc một lớp vải gai bên trong.
30 Tendo o rei ouvido as palavras da mulher, rasgou as suas vestes, quando passava pelo muro; o povo olhou e viu que trazia pano de saco por dentro, sobre a pele.
31 Vua nói: “Nguyện Đức Chúa Trời phạt ta cách nặng nề, nếu hôm nay cái đầu của Ê-li-sê, con trai Sa-phát, vẫn còn nằm trên vai nó.”
31 Disse o rei: Assim me faça Deus o que bem lhe aprouver se a cabeça de Eliseu, filho de Safate, lhe ficar, hoje, sobre os ombros.
32 Vua bèn truyền cho một tên quân cận vệ đi giết Ê-li-sê.Khi ấy, Ê-li-sê đang ngồi trong nhà ông. Có các trưởng lão ngồi ở đó với ông. Trước khi tên cận vệ đến nơi, Ê-li-sê nói với các trưởng lão: “Quý vị có biết kẻ sát nhân đang sai người đến chém đầu tôi chăng? Khi kẻ ấy đến, xin quý vị cứ đóng chặt cửa lại và không cho hắn vào. Há chẳng phải là tiếng chân của chủ hắn đang theo sau hắn đó sao?”
32 Estava, porém, Eliseu sentado em sua casa, juntamente com os anciãos. Enviou o rei um homem de diante de si; mas, antes que o mensageiro chegasse a Eliseu, disse este aos anciãos: Vedes como o filho do homicida mandou tirar-me a cabeça? Olhai, quando vier o mensageiro, fechai-lhe a porta e empurrai-o com ela; porventura, não vem após ele o ruído dos pés de seu senhor?
33 Đang khi Ê-li-sê còn đang nói với các trưởng lão thì vua đến với ông và nói: “Tai họa nầy là do nơi CHÚA mà ra. Tại sao tôi còn phải trông cậy nơi CHÚA nữa?”
33 Falava ele ainda com eles, quando lhe chegou o mensageiro; disse o rei: Eis que este mal vem do Senhor ; que mais, pois, esperaria eu do Senhor ?

Ler em outra tradução

Comparar com outra

Estude este capítulo no WhatsApp

Peça à IA da Bíblia Fala para explicar 2 Reis 6, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.