2 Reis 5

New Vietnamese Bible (VIETNVB) vs NAA

Sair da comparação
NAA Nova Almeida Atualizada 2017
1 Na-a-man, Tổng Tư Lệnh quân đội của vua A-ram, là một người quyền thế và rất có uy tín với chủ mình; bởi vì CHÚA đã dùng ông mà ban chiến thắng cho A-ram. Tuy ông là một chiến sĩ dũng mãnh nhưng lại mắc chứng bịnh phung.
1 Naamã, comandante do exército do rei da Síria, era grande homem diante do seu senhor e de muito conceito, porque por meio dele o Senhor tinha dado a vitória à Síria. Ele era herói de guerra, porém sofria de lepra.
2 Lúc ấy, các toán quân của A-ram có đi đột kích và bắt được một em gái người Y-sơ-ra-ên đem về làm nô tỳ cho vợ Na-a-man.
2 Tropas saíram da Síria, e da terra de Israel levaram cativa uma menina, que ficou ao serviço da mulher de Naamã.
3 Em gái ấy nói với bà chủ mình: “Ôi phải chi ông chủ con gặp được ông tiên tri ở Sa-ma-ri, thì ông ấy sẽ chữa cho ông chủ được lành.”
3 Um dia a menina disse à sua senhora: — Quem dera o meu senhor estivesse na presença do profeta que está em Samaria; ele o curaria da sua lepra.
4 Vậy Na-a-man vào tâu với chủ mình về những lời mà em gái ở Y-sơ-ra-ên đã nói.
4 Então Naamã foi contar isso ao seu senhor, dizendo: — Assim e assim falou a jovem que é da terra de Israel.
5 Vua của A-ram bèn nói: “Thế thì ngươi hãy đi. Ta sẽ gởi cho vua Y-sơ-ra-ên một bức thư.” Na-a-man lên đường, đem theo ba trăm ký bạc, sáu mươi ký vàng, và mười bộ quần áo.
5 O rei da Síria respondeu: — Vá! Eu enviarei uma carta ao rei de Israel. Então Naamã partiu e levou consigo trezentos e quarenta quilos de prata, setenta e dois quilos de ouro e dez mudas de roupa.
6 Ông đem bức thư trình lên vua Y-sơ-ra-ên. Thư viết rằng: “Cùng với bức thư nầy gởi đến vua, thì tôi đã sai Na-a-man, đầy tớ tôi, đến với vua, để xin vua chữa lành bịnh phung cho ông ấy.”
6 Levou também ao rei de Israel a carta, que dizia: “Tão logo esta carta chegar a você, saiba que eu lhe enviei Naamã, meu servo, para que você o cure da sua lepra.”
7 Khi vua Y-sơ-ra-ên đọc xong bức thư thì vua xé áo mình và nói: “Ông ấy sai người đến với ta để ta chữa lành bịnh phung cho. Bộ ông ấy tưởng ta là Đức Chúa Trời, có quyền làm sống làm chết hay sao? Các ngươi hãy xem đấy, rõ ràng là ông ấy kiếm cớ để gây sự với ta mà.”
7 Quando o rei de Israel acabou de ler a carta, rasgou as suas roupas em sinal de medo e disse: — Por acaso sou Deus, com poder de tirar a vida ou dá-la, para que este envie a mim um homem para eu curá-lo de sua lepra? Como vocês podem notar e ver, ele está procurando um pretexto contra mim.
8 Nhưng khi Ê-li-sê, người của Đức Chúa Trời, có nghe vua Y-sơ-ra-ên xé áo mình thì sai người đến nói với vua: “Tại sao vua xé áo mình? Hãy sai người ấy đến với tôi, để ông ấy sẽ biết rằng trong Y-sơ-ra-ên có một tiên tri.”
8 Mas, quando Eliseu, homem de Deus, ouviu que o rei de Israel havia rasgado as suas roupas, mandou dizer ao rei: — Por que o senhor rasgou as suas roupas? Deixe-o vir a mim, e ele saberá que há profeta em Israel.
9 Vậy Na-a-man cùng với các ngựa xe mình kéo đến trước cửa nhà Ê-li-sê.
9 Então Naamã foi com os seus cavalos e os seus carros e parou à porta da casa de Eliseu.
10 Ê-li-sê sai một sứ giả ra bảo: “Hãy đi, đến sông Giô-đanh tắm bảy lần, thì da thịt ngươi sẽ lành và được sạch bịnh.”
10 Eliseu lhe mandou um mensageiro, dizendo: — Vá e lave-se sete vezes no Jordão, e a sua carne será restaurada, e você ficará limpo.
11 Nhưng Na-a-man nổi giận, bỏ đi và nói: “Ta nghĩ rằng ông ấy phải đích thân ra đón ta, rồi đứng mà cầu khẩn danh CHÚA là Đức Chúa Trời của ông ta. Rồi ông ấy phải lấy tay đưa qua đưa lại trên các vết phung và chữa lành bịnh phung cho ta.
11 Mas Naamã ficou indignado e se foi, dizendo: — Eu pensava que ele certamente sairia para falar comigo, ficaria em pé, invocaria o nome do
12 A-ba-na và Bạt-ba là hai con sông ở Đa-mách, nước các sông ấy há chẳng tốt hơn các giòng nước ở Y-sơ-ra-ên sao? Ta há chẳng có thể tắm ở hai sông đó mà được sạch sao?” Rồi ông giận dỗi bỏ đi.
12 Por acaso não são Abana e Farfar, rios de Damasco, melhores do que todas as águas de Israel? Será que eu não poderia me lavar neles e ficar limpo? Deu meia-volta e foi embora muito irritado.
13 Nhưng các tôi tớ ông đến gần và nói với ông: “Thưa cha, nếu ông tiên tri có truyền cho cha phải làm một việc khó khăn, chẳng lẽ cha không làm sao? Huống hồ chi bây giờ ông ấy chỉ bảo cha rằng: ‘Hãy đi tắm thì sẽ được sạch!’”
13 Então os seus oficiais se aproximaram e lhe disseram: — Meu pai, se o profeta tivesse dito alguma coisa difícil, por acaso o senhor não faria? Muito mais agora que ele apenas disse: “Lave-se e você ficará limpo.”
14 Vậy Na-a-man đi xuống, tắm mình bảy lần dưới sông Giô-đanh, theo như lời của người Đức Chúa Trời. Da thịt ông được bình phục trở lại, như của một đứa trẻ, và ông được sạch bịnh phung.
14 Então Naamã desceu e mergulhou no Jordão sete vezes, conforme a palavra do homem de Deus; e a sua pele se tornou como a pele de uma criança, e ficou limpo.
15 Ông và đoàn tuỳ tùng liền trở lại gặp người của Đức Chúa Trời. Ông đến đứng trước người và nói: “Bây giờ tôi nhận biết rằng trên khắp thế gian không có Đức Chúa Trời nào khác ngoài Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên. Xin ngài hãy nhận một lễ vật của tôi tớ ngài.”
15 Depois ele voltou ao homem de Deus, ele e toda a sua comitiva. Veio, pôs-se diante dele e disse: — Eis que, agora, reconheço que em toda a terra não há Deus, a não ser em Israel. E agora, por favor, aceite um presente deste seu servo.
16 Nhưng Ê-li-sê từ chối và nói: “Nguyện Đức Chúa Trời hằng sống, là Đấng ta phục sự, chứng giám. Ta sẽ không nhận gì hết.” Na-a-man nài nỉ ông nhận, nhưng ông nhất định từ chối.
16 Porém ele respondeu: — Tão certo como vive o Naamã insistiu com ele para que aceitasse, mas ele recusou.
17 Bấy giờ Na-a-man nói: “Nếu ngài không chịu nhận vật gì, vậy thôi xin ngài cho tôi tớ ngài mang về một ít đất đủ cho hai con lừa chở được. Vì tôi tớ ngài sẽ không dâng của lễ thiêu hay sinh tế cho thần nào khác ngoại trừ một mình CHÚA.
17 Então Naamã disse: — Se você não quer, então peço que seja permitido a este seu servo levar duas mulas carregadas de terra; porque este seu servo nunca mais oferecerá holocausto nem sacrifício a outros deuses, a não ser ao
18 Chỉ xin CHÚA tha thứ cho tôi tớ ngài một điều, đó là khi chủ tôi đi vào đền của Rim-môn để thờ lạy, ông ấy hay vịn vào cánh tay tôi để quỳ xuống, vì thế tôi bị bắt phải quỳ theo trong đền của Rim-môn. Vậy khi tôi phải quỳ xuống trong đền của Rim-môn, nguyện CHÚA tha thứ cho tôi tớ ngài việc ấy.”
18 Mas que o Senhor Deus perdoe o seu servo uma coisa: quando meu senhor, o rei, entrar no templo de Rimom para ali adorar, e ele se encostar no meu braço, e eu também tiver de me encurvar no templo de Rimom, quando assim me prostrar no templo de Rimom, que o Senhor Deus perdoe este seu servo por isso.
19 Ê-li-sê nói với ông: “Hãy đi bình an.”Sau khi Na-a-man ra đi được một khoảng xa xa,
19 Eliseu lhe disse: — Vá em paz. Quando Naamã tinha se afastado certa distância,
20 thì Ghê-ha-xi, đầy tớ của Ê-li-sê, người của Đức Chúa Trời, nghĩ rằng: “Thầy ta để cho Na-a-man, người A-ram, ra đi quá dễ dàng, mà không nhận vật gì ông ấy đem tặng. Có Đức Chúa Trời hằng sống chứng giám, ta sẽ đuổi theo ông ấy và nhận lấy vật gì mới được.”
20 Geazi, o servo de Eliseu, homem de Deus, disse consigo: — Eis que meu senhor foi generoso demais com este sírio Naamã, recusando o que ele trazia. Mas, tão certo como vive o
21 Vậy Ghê-ha-xi đuổi theo Na-a-man. Khi Na-a-man thấy có người đuổi theo mình thì ông từ trên xe nhảy xuống, đến đón và hỏi: “Mọi sự bình an chăng?”
21 Então Geazi correu atrás de Naamã. Quando Naamã viu que alguém vinha correndo atrás dele, saltou da carruagem para ir ao encontro dele. Então perguntou: — Está tudo bem?
22 Ghê-ha-xi đáp: “Bình an. Có điều là thầy tôi sai tôi đến nói: ‘Có hai tiên tri mới vừa từ vùng đồi núi Ép-ra-im đến, xin ngài hãy cho họ ba mươi ký bạc và hai bộ quần áo để thay đổi.’”
22 Ele respondeu: — Sim, tudo bem. Meu senhor me mandou dizer: “Eis que agora mesmo vieram da região montanhosa de Efraim dois jovens que fazem parte do grupo dos discípulos dos profetas. Por favor, dê-lhes trinta e quatro quilos de prata e duas mudas de roupa.”
23 Na-a-man đáp: “Xin hãy nhận lấy sáu mươi ký.” Rồi ông nài ép Ghê-ha-xi hãy nhận. Ông cho cột sáu mươi ký bạc và hai bộ quần áo để thay đổi vào hai bao, rồi sai hai người đầy tớ mang đi trước mặt Ghê-ha-xi.
23 Naamã disse: — Tenha a bondade de levar sessenta e oito quilos. Insistiu com ele e amarrou sessenta e oito quilos de prata em dois sacos e duas mudas de roupa. Pôs isso sobre os ombros de dois dos seus servos, para que o levassem à frente de Geazi.
24 Khi họ đến chân đồi, thì Ghê-ha-xi lấy hai bao ấy khỏi tay họ để đem cất trong nhà mình, rồi cho hai người ấy đi về, và họ ra về.
24 Quando ele chegou à colina, pegou os sacos que os servos traziam e os depositou na casa. Então despediu aqueles homens, que se foram.
25 Đoạn Ghê-ha-xi đi vào gặp thầy mình và đứng hầu trước mặt ông.Ê-li-sê hỏi: “Ghê-ha-xi, ngươi đi đâu về đó?”Ghê-ha-xi đáp: “Tôi tớ của thầy đâu có đi đâu.”
25 Ele, porém, entrou e se pôs diante de seu senhor. Eliseu perguntou: — De onde você vem, Geazi? Ele respondeu: — Este seu servo não foi a lugar nenhum.
26 Nhưng ông bảo: “Tâm linh ta há không đi với ngươi khi người ta từ trên xe nhảy xuống để đón ngươi sao? Bây giờ há có phải là lúc để nhận tiền bạc, quần áo, vườn ô-liu, vườn nho, chiên, bò và tôi trai, tớ gái hay sao?
26 Porém Eliseu disse: — Você acha que eu não estava com você em espírito quando aquele homem voltou da sua carruagem, para encontrar-se com você? Será que esta era a ocasião para você aceitar prata e aceitar roupas, olivais e vinhas, ovelhas e bois, servos e servas?
27 Thế nên bịnh phung của Na-a-man sẽ dính vào ngươi và con cháu ngươi mãi mãi.” Ghê-ha-xi rời khỏi Ê-li-sê, mắc lấy bịnh phung, trắng như tuyết.
27 Portanto, a lepra de Naamã se pegará a você e à sua descendência para sempre. E Geazi saiu da presença de Eliseu já leproso, branco como a neve.

Ler em outra tradução

Comparar com outra

Estude este capítulo no WhatsApp

Peça à IA da Bíblia Fala para explicar 2 Reis 5, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.