1 Reis 8

New Vietnamese Bible (VIETNVB) vs NVI

Sair da comparação
NVI Nova Versão Internacional
1 Bấy giờ Sa-lô-môn triệu tập các trưởng lão của Y-sơ-ra-ên, tất cả các trưởng chi tộc và các trưởng gia tộc trong Y-sơ-ra-ên lại trước mặt vua ở Giê-ru-sa-lem, để rước Rương Giao Ước của Chúa từ thành Đa-vít ở Si-ôn đến Đền Thờ.
1 Então o rei Salomão reuniu em Jerusalém as autoridades de Israel, todos os líderes das tribos e os chefes das famílias israelitas, para levarem de Sião, a cidade de Davi, a arca da aliança do Senhor.
2 Vào tháng Ê-tha-nim, tức tháng bảy, toàn dân Y-sơ-ra-ên tụ họp lại quanh vua Sa-lô-môn để dự lễ.
2 E todos os homens de Israel uniram-se ao rei Salomão por ocasião da festa, no mês de etanim, que é o sétimo mês.
3 Khi tất cả các trưởng lão đến, các thầy tế lễ khiêng Rương đi.
3 Quando todas as autoridades de Israel chegaram, os sacerdotes pegaram
4 Vậy những thầy tế lễ và những người Lê-vi khiêng Rương của Chúa, Lều Tạm là nơi diện kiến với Chúa, và tất cả các vật dụng thánh trong Lều Tạm đem đi.
4 a arca do Senhor e a levaram, com a Tenda do Encontro e com todos os seus utensílios sagrados. Foram os sacerdotes e os levitas que levaram tudo.
5 Vua Sa-lô-môn và toàn thể hội chúng Y-sơ-ra-ên, tức là những người đã nhóm họp trước mặt vua, hiệp cùng với vua đến trước Rương. Họ dâng hiến chiên và bò nhiều vô kể, nhiều đến độ không thể đếm được.
5 O rei Salomão e toda a comunidade de Israel que se havia reunido a ele diante da arca, sacrificaram tantas ovelhas e bois que nem era possível contar.
6 Rồi các thầy tế lễ thỉnh Rương Giao Ước của Chúa đặt vào vị trí, ở phía bên trong của Đền Thờ, tức là Nơi Chí Thánh, dưới các cánh chê-ru-bim.
6 Os sacerdotes levaram a arca da aliança do Senhor para o seu lugar no santuário interno do templo, no Lugar Santíssimo, e a colocaram debaixo das asas dos querubins.
7 Các chê-ru-bim dang cánh ra bên trên Rương; các chê-ru-bim che phủ Rương và các đòn khiêng.
7 Os querubins tinham suas asas estendidas sobre o lugar da arca e cobriam a arca e as varas utilizadas para o transporte.
8 Các đòn khiêng nầy khá dài đến độ ở Nơi Thánh ngay trước Nơi Chí Thánh người ta có thể trông thấy được đầu các đòn khiêng, nhưng ở ngoài thì không thấy được. Các đòn khiêng ấy vẫn còn ở đó cho đến ngày nay.
8 Essas varas eram tão compridas que as suas pontas, que se estendiam para fora da arca, podiam ser vistas da frente do santuário interno, mas não de fora dele; e elas estão lá até hoje.
9 Trong Rương không có gì khác ngoài hai bảng bằng đá mà Môi-se đã đặt vào đó khi còn ở Hô-rếp, là nơi Chúa đã lập giao ước với dân Y-sơ-ra-ên, khi họ vừa mới ra khỏi Ai-cập.
9 Na arca havia só as duas tábuas de pedra que Moisés tinha colocado quando estava em Horebe, onde o Senhor fez uma aliança com os israelitas depois que saíram do Egito.
10 Khi các thầy tế lễ vừa ra khỏi Nơi Thánh, thì có một đám mây bao phủ Đền Thờ của Chúa,
10 Quando os sacerdotes se retiraram do Lugar Santo, uma nuvem encheu o templo do Senhor,
11 đến nỗi các thầy tế lễ không thể tiếp tục thi hành nghi lễ vì mây bao phủ và vì vinh hiển của Chúa đầy dẫy khắp Đền Thờ của Chúa.
11 de forma que os sacerdotes não podiam desempenhar o seu serviço, pois a glória do Senhor encheu o seu templo.
12 Bấy giờ Sa-lô-môn nói: “Chúa đã phán rằng Ngài ngự trong mây dày đặc.
12 E Salomão exclamou: "O Senhor disse que habitaria numa nuvem escura!
13 Con đã xây cho Ngài một ngôi đền nguy nga tráng lệ, làm một nơi để Ngài ngự đời đời.”
13 Na realidade construí para ti um templo magnífico, um lugar para nele habitares para sempre! "
14 Đoạn vua quay lại và chúc phước cho hội chúng Y-sơ-ra-ên, trong khi cả hội chúng Y-sơ-ra-ên đang đứng.
14 Depois o rei virou-se e abençoou toda a assembléia de Israel, que estava ali de pé.
15 Vua nói: “Chúc tụng Chúa, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, là Đấng dùng tay Ngài làm ứng nghiệm mọi điều Ngài đã hứa với Đa-vít, cha ta. Ngài có phán rằng:
15 E disse: "Bendito seja o Senhor, o Deus de Israel, que com a sua mão cumpriu o que prometeu com sua própria boca a meu pai Davi, quando lhe disse:
16 ‘Từ ngày Ta đem dân Y-sơ-ra-ên Ta ra khỏi Ai-cập, Ta không chọn một thành nào trong các chi tộc Y-sơ-ra-ên để xây cất một nhà cho Ta, hầu cho danh Ta sẽ ngự tại đó, nhưng Ta đã chọn Đa-vít để trị vì dân Y-sơ-ra-ên Ta.’
16 ‘Desde o dia em que tirei o meu povo Israel do Egito, não escolhi nenhuma cidade das tribos de Israel para nela construir um templo em honra do meu nome. Mas escolhi Davi para governar Israel, o meu povo’.
17 Đa-vít, cha ta, có ý định xây cất một ngôi đền cho danh Chúa, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.
17 "Meu pai Davi tinha no coração o propósito de construir um templo em honra do nome do Senhor, o Deus de Israel.
18 Nhưng Chúa có phán với Đa-vít, cha ta rằng: ‘Ngươi có ý tốt khi muốn xây cất một ngôi đền cho danh Ta;
18 Mas o Senhor lhe disse: ‘Você fez bem em ter no coração o plano de construir um templo em honra do meu nome;
19 nhưng ngươi sẽ không xây đền ấy cho Ta đâu, nhưng con trai ngươi, do ngươi sinh ra, sẽ xây đền ấy cho danh Ta.’
19 no entanto, não será você que o construirá, mas o seu filho, que procederá de você; ele construirá o templo em honra do meu nome’.
20 Bây giờ Chúa đã làm thành những lời Ngài đã hứa, vì ta đã đứng thay vào chỗ của Đa-vít, cha ta; ta ngồi trên ngai của Y-sơ-ra-ên, như Chúa đã hứa, và ta cũng đã xây một ngôi đền cho danh Chúa, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.
20 "E o Senhor cumpriu a sua promessa: Sou o sucessor de meu pai Davi, e agora ocupo o trono de Israel, como o Senhor tinha prometido, e construí o templo em honra do nome do Senhor, o Deus de Israel.
21 Đây nầy ta đã làm một chỗ để đặt Rương Giao Ước, trong đó có chứa đựng giao ước của Chúa, mà Ngài đã hứa với các tổ phụ chúng ta, khi Ngài đem họ ra khỏi xứ Ai-cập.”
21 Providenciei nele um lugar para a arca, na qual estão as tábuas da aliança do Senhor, aliança que fez com os nossos antepassados quando os tirou do Egito".
22 Bấy giờ Sa-lô-môn đứng trước bàn thờ của Chúa, trước mặt toàn thể hội chúng Y-sơ-ra-ên, giơ hai tay lên trời
22 Depois Salomão colocou-se diante do altar do Senhor, diante de toda a assembléia de Israel, levantou as mãos para o céu
23 và cầu nguyện rằng:“Lạy Chúa, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, chẳng có thần nào giống như Ngài ở trên trời cao kia hay dưới đất thấp nầy. Ngài giữ giao ước và tỏ tình thương đối với các tôi tớ Ngài là những người bước đi cách hết lòng trước mặt Ngài.
23 e orou: "Senhor, Deus de Israel, não há Deus como tu em cima nos céus nem embaixo na terra! Tu que guardas a tua aliança de amor com os teus servos que, de todo o coração, andam segundo a tua vontade.
24 Ngài đã giữ giao ước Ngài phán với tôi tớ Ngài là Đa-vít, cha của con. Điều chính miệng Ngài đã hứa thì ngày nay cánh tay Ngài đã thực hiện.
24 Cumpriste a tua promessa a teu servo Davi, meu pai; com tua boca prometeste e com tua mão a cumpriste, conforme hoje se vê.
25 Giờ đây, lạy Chúa, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, xin Ngài tiếp tục giữ những gì Ngài đã hứa với Đa-vít, cha của con, rằng: ‘Trước mặt Ta, ngươi sẽ không thiếu một kẻ kế vị ngươi để ngồi trên ngôi của Y-sơ-ra-ên, nếu con cháu ngươi biết cẩn thận giữ đúng đường lối chúng, bước đi trước mặt Ta như ngươi đã bước đi trước mặt Ta.’
25 "Agora, Senhor, Deus de Israel, cumpre a outra promessa que fizeste a teu servo Davi, meu pai, quando disseste: ‘Você nunca deixará de ter, diante de mim, um descendente que se assente no trono de Israel, se tão-somente os seus descendentes tiverem o cuidado de, em tudo, andarem segundo a minha vontade, como você tem feito’.
26 Vậy nên, lạy Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, cầu xin Ngài thực hiện lời nầy mà Ngài đã hứa với tôi tớ Ngài là Đa-vít, cha của con.
26 Agora, ó Deus de Israel, que se confirme a palavra que falaste a teu servo Davi, meu pai.
27 Nhưng Đức Chúa Trời thật có ngự trên đất chăng? Ngay cả trời của các từng trời còn chưa thể chứa Ngài được thay, huống chi là ngôi đền con xây cất cho Ngài đây.
27 "Mas será possível que Deus habite na terra? Os céus, mesmo os mais altos céus, não podem conter-te. Muito menos este templo que construí!
28 Lạy CHÚA là Đức Chúa Trời của con, xin đoái đến lời cầu nguyện và nài xin của tôi tớ Ngài; xin đoái nghe lời cầu xin và khẩn nguyện mà tôi tớ Ngài xin dâng lên trước thánh nhan Ngài ngày nay.
28 Ainda assim, atende à oração do teu servo e ao seu pedido de misericórdia, ó Senhor, meu Deus. Ouve o clamor e a oração que o teu servo faz hoje na tua presença.
29 Nguyện mắt Ngài đêm ngày đoái xem ngôi đền nầy, là nơi Ngài đã phán rằng: ‘Danh Ta sẽ ngự tại đó,’ để Ngài nghe lời cầu nguyện của tôi tớ Ngài hướng về nơi đây cầu khẩn.
29 Estejam os teus olhos voltados dia e noite para este templo, lugar do qual disseste que nele porias o teu nome, para que ouças a oração que o teu servo fizer voltado para este lugar.
30 Xin Ngài lắng nghe lời cầu xin của tôi tớ Ngài và của con dân Ngài mỗi khi họ hướng về nơi nầy mà cầu nguyện. Từ chốn thiên đàng, nơi Ngài ngự, xin Ngài dủ nghe và tha thứ cho.
30 Ouve as súplicas do teu servo e de Israel, teu povo, quando orarem voltados para este lugar. Ouve desde os céus, lugar da tua habitação, e quando ouvires, dá-lhes o teu perdão.
31 Khi có ai phạm tội nghịch lại người lân cận mình, và người ta bắt kẻ ấy phải thề; nếu kẻ ấy đến và thề trước bàn thờ Ngài trong ngôi đền nầy,
31 "Quando um homem pecar contra seu próximo e tiver que fazer um juramento, e vier jurar diante do teu altar neste templo,
32 thì từ chốn thiên đàng xin Ngài lắng nghe, hành động và phân xử các tôi tớ Ngài; xin Ngài kết án kẻ có tội và bắt nó phải cúi đầu chịu lấy hậu quả tội lỗi mình; và xin Ngài minh oan cho người ngay lành và ban thưởng cho họ vì sự vô tội của họ.
32 ouve dos céus e age. Julga os teus servos; condena o culpado, fazendo recair sobre a sua própria cabeça o resultado da sua conduta, e declara sem culpa o inocente, dando-lhe o que a sua inocência merece.
33 Khi dân Y-sơ-ra-ên Ngài có phạm tội nghịch lại Ngài, rồi bị quân thù đánh bại, nhưng khi họ biết quay về với Ngài, tuyên xưng danh Ngài, cầu nguyện và khẩn xin Ngài trong ngôi đền nầy,
33 "Quando Israel, o teu povo, for derrotado por um inimigo por ter pecado contra ti, e voltar-se para ti e invocar o teu nome, orando e suplicando a ti neste templo,
34 thì từ chốn thiên đàng, xin Ngài dủ nghe, xin Ngài tha thứ tội cho dân Y-sơ-ra-ên Ngài, và đem họ về lại xứ mà Ngài đã ban cho tổ phụ họ.
34 ouve dos céus e perdoa o pecado de Israel, teu povo, e traze-o de volta à terra que deste aos seus antepassados.
35 Khi trời đóng lại và không mưa xuống đất bởi vì họ có phạm tội nghịch lại Ngài, nhưng rồi họ hướng về nơi nầy mà cầu nguyện, tuyên xưng danh Ngài, lìa bỏ tội lỗi, vì đã bị Ngài sửa phạt,
35 "Quando fechar-se o céu, e não houver chuva por haver o teu povo pecado contra ti, e, se o teu povo, voltado para este lugar, invocar o teu nome e afastar-se do seu pecado por o haveres castigado,
36 thì từ chốn thiên đàng, xin Ngài dủ nghe, xin Ngài tha thứ tội lỗi của các tôi tớ Ngài, là dân Y-sơ-ra-ên Ngài. Cầu xin Ngài chỉ dạy họ con đường tốt mà họ phải đi và ban mưa xuống xứ mà Ngài đã ban cho dân Ngài làm sản nghiệp.
36 ouve dos céus e perdoa o pecado dos teus servos, do teu povo Israel. Ensina-lhes o caminho certo e envia chuva sobre a tua terra, que deste por herança ao teu povo.
37 Khi trong xứ có đói kém, khi họ gặp phải dịch lệ, hạn hán, nấm mốc, cào cào, hay sâu bọ, nếu quân thù có vây hãm thành nào của họ, bất cứ họ bị dịch lệ nào, bất cứ họ bị bịnh tật gì,
37 "Quando houver fome ou praga no país, ferrugem e mofo, gafanhotos peregrinos e gafanhotos devastadores, ou quando inimigos sitiarem suas cidades, quando, em meio a qualquer praga ou epidemia,
38 và có cá nhân nào hay toàn dân Y-sơ-ra-ên Ngài hết lòng nhận biết nỗi đau đớn của mình mà giơ tay ra hướng về ngôi đền nầy mà cầu nguyện, nài xin,
38 uma oração ou súplica por misericórdia for feita por um israelita ou por todo o teu povo Israel, cada um sentindo as suas próprias aflições e dores, estendendo as mãos na direção deste templo,
39 thì từ chốn thiên đàng, nơi ngự của Ngài, xin Ngài dủ nghe, tha thứ, hành động, và báo trả cho mỗi người tùy theo điều Ngài biết nơi lòng của họ, và tùy theo những đường lối của họ; vì chỉ một mình Ngài mới biết rõ mọi sự trong lòng mỗi người mà thôi;
39 ouve dos céus, o lugar da tua habitação. Perdoa e age; trata cada um de acordo com o que merece, visto que conheces o seu coração. Sim, só tu conheces o coração do homem.
40 hầu cho họ sẽ kính sợ Ngài trọn đời mình và sẽ sống trong xứ mà Ngài đã ban cho tổ phụ họ.
40 Assim eles te temerão durante todo o tempo em que viverem na terra que deste aos nossos antepassados.
41 Ngoài ra, khi có người ngoại quốc nào, là người không thuộc về dân Y-sơ-ra-ên Ngài, từ một xứ xa đến vì nghe uy danh Ngài--
41 "Quanto ao estrangeiro, que não pertence ao teu povo Israel, e que veio de uma terra distante por causa do teu nome —
42 vì người ta sẽ nghe đại danh của Ngài, cánh tay quyền năng của Ngài, và cánh tay Ngài đã giang ra--khi có một người ngoại quốc đến, hướng về ngôi đền nầy mà cầu nguyện,
42 pois ouvirão acerca do teu grande nome, da tua mão poderosa e do teu braço forte — quando ele vier e orar voltado para este templo,
43 thì từ chốn thiên đàng, nơi ngự của Ngài, xin Ngài dủ nghe, và nhậm mọi lời cầu nguyện người ngoại quốc đó đã cầu xin với Ngài, hầu cho mọi dân trên đất sẽ biết đến danh Ngài và kính sợ Ngài, giống như dân Y-sơ-ra-ên Ngài đã làm vậy, và thiên hạ sẽ biết rằng danh của Ngài được kêu cầu nơi nhà nầy, là nhà mà con đã xây.
43 ouve dos céus, lugar da tua habitação, e atende o pedido do estrangeiro, a fim de que todos os povos da terra conheçam o teu nome e te temam, como faz Israel, teu povo, e saibam que este templo que construí traz o teu nome.
44 Khi dân Ngài phải ra chiến trận đánh đuổi quân thù, dù họ đang ở bất cứ nơi nào Ngài sai họ đi, và khi dân Ngài hướng về thành nầy là thành Ngài đã chọn và ngôi đền con đã xây cho danh Ngài mà cầu nguyện với Chúa,
44 "Quando o teu povo for à guerra contra os seus inimigos, por onde quer que tu o enviares, e orar ao Senhor voltado para a cidade que escolheste e para o templo que construí em honra do teu nome,
45 thì từ chốn thiên đàng, nơi ngự của Ngài, xin Ngài dủ nghe lời cầu nguyện và nài xin của họ mà binh vực duyên cớ họ.
45 então ouve dos céus a sua oração e a sua súplica, e defende a sua causa.
46 Khi họ phạm tội cùng Ngài--vì chẳng ai là không phạm tội--và Ngài giận họ, phó họ cho quân thù, chúng bắt họ lưu đày trong xứ của kẻ thù nghịch, dù xa hay gần;
46 "Quando pecarem contra ti, pois não há ninguém que não peque, e ficares irado com eles e os entregares ao inimigo, que os leve prisioneiros para a sua terra, distante ou próxima;
47 nhưng nếu đang lúc ở trong xứ lưu đày họ biết hồi tâm sửa đổi, họ ăn năn và kêu cầu với Ngài trong xứ của những kẻ bắt họ đi lưu đày, mà rằng: ‘Chúng con đã phạm tội, chúng con đã sai trật, chúng con đã làm điều gian ác.’
47 se eles caírem em si, na terra para a qual foram deportados, e se arrependerem e lá orarem: ‘Pecamos, praticamos o mal e fomos rebeldes’;
48 Nếu họ hết lòng hết linh hồn ăn năn cùng Ngài trong xứ của kẻ thù, là những kẻ bắt họ đi lưu đày, nếu họ hướng về xứ mà Ngài đã ban cho tổ phụ họ, về thành mà Ngài đã chọn, và về ngôi đền mà con đã xây cho danh Ngài mà cầu nguyện,
48 e se lá eles se voltarem para ti de todo o coração e de toda a sua alma, na terra dos inimigos que os levaram como prisioneiros, e orarem voltados para a terra que deste aos seus antepassados, para a cidade que escolheste e para o templo que construí em honra do teu nome,
49 thì từ chốn thiên đàng, nơi ngự của Ngài, xin Ngài dủ nghe lời cầu nguyện và nài xin của họ mà binh vực duyên cớ họ;
49 então, desde os céus, o lugar da tua habitação, ouve a sua oração e a sua súplica, e defende a sua causa.
50 xin Ngài tha thứ cho dân Ngài mọi tội lỗi và mọi vi phạm mà họ đã phạm đối với Ngài; xin Ngài khiến những kẻ đang bắt họ lưu đày tỏ lòng thương xót họ;
50 Perdoa o teu povo, que pecou contra ti; perdoa todas as transgressões que cometeram contra ti, e faze com que os seus conquistadores tenham misericórdia deles;
51 vì họ là dân Ngài, là cơ nghiệp của Ngài, là những kẻ Ngài đã đem ra từ Ai-cập, từ giữa lò nung chảy sắt.
51 pois são o teu povo e a tua herança, que tiraste do Egito, da fornalha de fundição.
52 Cầu xin mắt Ngài đoái xem lời cầu xin của tôi tớ Ngài, và lời cầu xin của dân Y-sơ-ra-ên Ngài, xin Ngài lắng nghe họ khi họ kêu cầu Ngài.
52 "Que os teus olhos estejam abertos para a súplica do teu servo e para a súplica do teu povo Israel, e que os ouças sempre que clamarem a ti.
53 Vì Ngài đã tách họ ra khỏi mọi dân tộc trên đất, để họ làm cơ nghiệp Ngài, như Ngài đã hứa cùng Môi-se, tôi tớ Ngài, khi Ngài đem tổ phụ chúng con ra khỏi Ai-cập, ôi lạy Chúa là Đấng Chủ Tể Tuyệt Đối.”
53 Pois tu os escolheste dentre todos os povos da terra para serem a tua herança, assim como declaraste por meio do teu servo Moisés, quando tu, ó Soberano Senhor, tiraste os nossos antepassados do Egito".
54 Khi Sa-lô-môn đã dâng lời cầu nguyện nầy và những lời cầu xin nầy lên Chúa xong, vua đứng dậy trước bàn thờ của Chúa, là nơi vua đã quỳ và giơ hai tay lên trời.
54 Quando Salomão terminou a oração e a súplica ao Senhor, levantou-se diante do altar do Senhor, onde tinha se ajoelhado e estendido as mãos para o céu.
55 Vua đứng dậy, cất tiếng lớn chúc phước cho toàn hội chúng Y-sơ-ra-ên rằng:
55 Pôs-se de pé e abençoou em voz alta toda a assembléia de Israel, dizendo:
56 “Chúa tụng Chúa, là Đấng ban cho dân Y-sơ-ra-ên Ngài được an nghỉ như mọi lời Ngài đã hứa. Không một lời nào trong tất cả những lời hứa tốt đẹp mà Ngài đã cậy Môi-se, tôi tớ Ngài, nói ra mà Ngài không làm cho ứng nghiệm.
56 "Bendito seja o Senhor, que deu descanso a Israel, seu povo, como havia prometido. Não ficou sem cumprimento nem uma de todas as boas promessas que ele fez por meio do seu servo Moisés.
57 Nguyện xin CHÚA là Đức Chúa Trời chúng ta ở với chúng ta, như Ngài đã ở với tổ phụ chúng ta. Nguyện xin Ngài đừng lìa và đừng bỏ chúng ta.
57 Que o Senhor, o nosso Deus, esteja conosco, assim como esteve com os nossos antepassados. Que ele jamais nos deixe nem nos abandone!
58 Nguyện lòng của chúng ta luôn hướng về Ngài, đi trong mọi đường lối Ngài, vâng giữ những điều răn, luật lệ, và mạng lịnh mà Ngài đã truyền cho tổ phụ chúng ta.
58 E faça com que de coração nos voltemos para ele, a fim de andarmos em todos os seus caminhos e obedecermos aos seus mandamentos, decretos e ordenanças, que deu aos nossos antepassados.
59 Nguyện những lời của ta đã cầu nguyện trước mặt CHÚA sẽ ở bên cạnh Chúa là Đức Chúa Trời chúng ta ngày và đêm. Nguyện Ngài binh vực duyên cớ của tôi tớ Ngài và dân Y-sơ-ra-ên Ngài tùy theo nhu cầu mỗi ngày;
59 E que as palavras da minha súplica ao Senhor tenham acesso ao Senhor, ao nosso Deus, dia e noite, para que ele defenda a causa do seu servo e a causa de Israel, seu povo, de acordo com o que precisarem.
60 để cho mọi dân tộc trên đất sẽ biết rằng CHÚA là Đức Chúa Trời, không có một chân thần nào khác.
60 Assim, todos os povos da terra saberão que o Senhor é Deus e que não há nenhum outro.
61 Vậy, các ngươi khá hết lòng tận trung với CHÚA là Đức Chúa Trời chúng ta, mà sống theo các luật lệ của Ngài và vâng giữ các điều răn của Ngài, y như đã làm ngày nay.”
61 Mas vocês, tenham coração íntegro para com o Senhor, o nosso Deus, para viverem por seus decretos e obedecerem aos seus mandamentos, como acontece hoje".
62 Rồi vua và toàn dân Y-sơ-ra-ên đang hiệp với vua dâng các sinh tế lên trước mặt Chúa.
62 Então o rei Salomão e todo o Israel ofereceram sacrifícios ao Senhor;
63 Sa-lô-môn dâng cho Chúa hai mươi hai ngàn con bò và một trăm hai mươi ngàn con chiên làm của lễ tạ ơn. Vậy vua và toàn dân Y-sơ-ra-ên cung hiến Đền Thờ lên Chúa.
63 ele ofereceu em sacrifício de comunhão ao Senhor vinte e dois mil bois e cento e vinte mil ovelhas. Assim o rei e todos os israelitas fizeram a dedicação do templo do Senhor.
64 Ngày hôm đó, vua biệt riêng khu vực ở giữa sân trước Đền Thờ của Chúa làm nơi dâng các của lễ thiêu, các của lễ chay, và mỡ của các của lễ tạ ơn, vì bàn thờ bằng đồng trước mặt CHÚA quá nhỏ, không đủ chỗ để nhận các của lễ thiêu, các của lễ chay, và mỡ của các của lễ tạ ơn.
64 Naquele mesmo dia o rei consagrou a parte central do pátio, que ficava na frente do templo do Senhor, e ali ofereceu holocaustos, ofertas de cereal e a gordura das ofertas de comunhão, pois o altar de bronze diante do Senhor era pequeno demais para comportar os holocaustos, as ofertas de cereal e a gordura das ofertas de comunhão.
65 Vậy, lúc ấy Sa-lô-môn và toàn dân Y-sơ-ra-ên có mặt với vua mừng lễ trước mặt CHÚA là Đức Chúa Trời chúng ta bảy ngày. Thật là một đoàn dân đông đảo, đến từ cửa ải Ha-mát cho đến suối Ai-cập.
65 E foi assim que Salomão, junto com todo o Israel, celebrou a festa naquela data; era uma grande multidão, gente vinda desde Lebo-Hamate até o ribeiro do Egito. Comemoraram diante do Senhor, o nosso Deus, durante sete dias.
66 Vào ngày thứ tám, vua truyền cho dân chúng ra về. Họ chúc phước cho vua, rồi trở về trại mình, tinh thần vui mừng phấn khởi, vì mọi điều tốt đẹp mà Chúa đã làm cho Đa-vít, tôi tớ Ngài và cho dân Y-sơ-ra-ên Ngài.
66 No oitavo dia Salomão mandou o povo para casa. Eles abençoaram o rei e foram embora, jubilosos e de coração alegre por todas as coisas boas que o Senhor havia feito por seu servo Davi e por seu povo Israel.

Ler em outra tradução

Comparar com outra

Estude este capítulo no WhatsApp

Peça à IA da Bíblia Fala para explicar 1 Reis 8, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.