Tiago 3

Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI

Sair da comparação
AAI TUR GEWASIN O BAIBASIT BOUBUN
1 Thưa anh chị em, trong vòng anh chị em không nên có quá nhiều người mong làm thầy vì sẽ bị phê phán gắt gao hơn.
1 Taitu men moumur na’in bai’obaiyenayah mataramih kwaniwa’an. Anayabin kwa kwaso’ob, it iyab bai’obaiyenayah, baibatebat ana veya God boro fokarin maiyow nibatiyit, men sabuw maiyow nabibabatiyih na’atube’emih.
2 Chúng ta ai cũng có sơ xuất. Nếu ai không hề sơ xuất trong lời nói, người đó thật hoàn toàn, biết kiểm soát cả con người mình.
2 It etei’imak mar etei ef ta ta’amaim tare’ere, baise orot yait awanamaim tur ititit, naatu men nasisinaf kwanekwan na’at, nati orot wanawanan i rousouwin, imih i karam biyan boro nanutitiy gewas nabonawiy.
3 Khi chúng ta tra khớp vào miệng ngựa, bắt nó vâng theo mình thì có thể kiểm soát toàn thân nó.
3 Ana’itinin ta i iti, horse mo’on murab ina’utan naatu o menamaim namih kukokok murab inatain, horse gagamin na’in boro natatabir o a kokomaim nan.
4 Chiếc tàu mặc dù to lớn, bị gió mạnh xô đẩy, nhưng chỉ cần một bánh lái rất nhỏ cũng đủ điều khiển chiếc tàu lớn đó đi theo ý người cầm lái.
4 Na’atube wa gagamin na’in kwana’itin, yaurabad gagamin ebababin, baise murab kikimin maiyow nati wa ana gunigamaim hi’utan inu’in, orot menamaim namih ekok ea’abar murab kikimin karam boro wa gagamin na’in narowen mutufur orot ana kokomaim nan.
5 Cái lưỡi cũng tương tự như vậy. Tuy chỉ là một chi thể nhỏ nhưng khoe khoang nhiều chuyện lớn. Chỉ cần một ngọn lửa nhỏ là có thể bắt đầu đám cháy rừng lớn.
5 Imih kwana’itin menat i kikimin maiyow biyat turin, baise ana o kwanekwan i yumatan ta. Naatu itinin ta i iti, wairaf kikimin maiyow natamun nare’er kutor gagamin na’in boro na’arah ni’afiy.
6 Cái lưỡi cũng giống như ngọn lửa. Trong tất cả mọi chi thể nó tập trung cả khối gian ác và rải nọc độc ra toàn thân. Nó bị hỏa ngục bắt cháy rồi chính nó cũng khởi đầu một đám cháy ảnh hưởng cả đời người.
6 Imih menat i wairaf na’atube in etoto’ab. Menat i tafaram ana kakafin an. Biyat wanawanan ma, not kakafih faram at umat etei susuw, ata yawas tutufin etei bonawiy Baimakiy Ana Efanamaim wairaf wan eyayara’ah na’arahimih.
7 Loài người có thể chế ngự mọi dã thú, từ chim chóc, loài bò sát cho đến cá. Loài nào cũng chế ngự được,
7 Me yan ana sawar naatu riy yan ana sawar etei karam boro sabuw hinimanamen, afa himanamenaka, sigarafor, mamu, uway, kok, uma’ar, naatu siy.
8 nhưng chưa ai chế ngự được cái lưỡi. Nó hung hăng, gian ác, đầy nọc độc chết người.
8 Baise orot babin men yait ta menat imanamimih. Menat i sawar kakafin moromorob naatu bibirin men karam inimutufur.
9 Chúng ta dùng cái lưỡi để ca ngợi Chúa là Cha chúng ta, nhưng cũng dùng chính cái lưỡi ấy để chửi rủa người khác, là người được Thượng Đế tạo dựng theo hình ảnh Ngài.
9 Menatamaim Tamat God ana merar tayi tabobora’ara’ah baise menat ta’imonamaim taituwat God ana’itininabe bimatarih i tao’orarafih maiye.
10 Vừa khen ngợi, vừa chửi rủa, cả hai đều phát xuất từ một môi miệng sao? Thưa anh chị em, không nên làm như vậy.
10 Awat i ta’imon, baise merarayow naatu orarafen hairi i efan ta’imon tititit. Taitu iti na’atube men nama.
11 Có lý nào từ một con suối mà ra cả hai loại nước vừa ngọt vừa mặn sao?
11 Harew buruburur ana sou’umaim karam boro harew naatu riy hairi sou ta’imon hinayen? Men karam.
12 Thưa anh chị em, có thể nào cây vả sinh ra trái ô-liu, hoặc cây nho sinh ra trái vả không? Không thể được! Cũng vậy, giếng nước mặn chẳng thể cho nước ngọt được.
12 Taitu, fafou nabiw men karam boro olive ro’on nayai, naatu grape nabiw na’atube men karam boro fafou ro’on nayai. Riy yan i na’atube men karam boro tomatom ana harew inahun.
13 Trong anh chị em có ai thật sự khôn ngoan hiểu biết chăng? Người ấy nên chứng tỏ qua nếp sống tốt đẹp và hành vi đáng khen phản ảnh qua tính mềm mại do khôn ngoan mà ra.
13 Orot yait kwa wanawanamaim not wairafin naatu ukwarin rerekabin nama’am i boro taiyuwin nayare tur hamehamen naatu yawas gewasin nasisinaf kwana’itin. Sinaf nati i ukwar rerekabane enan.
14 Nhưng nếu anh chị em ích kỷ và đố kỵ cay đắng trong lòng, thì chớ nên khoe khoang, vì khoe như thế là giả dối, giấu giếm sự thật.
14 Baise o dogor wanawanan tenakuyakuy, bobowen, kabat ibun wa’ir ema’am, men o not wairafih inarouw inaora’at, turobe ana bowabow inayaubimih.
15 Loại “khôn ngoan” đó không phải từ Thượng Đế đến đâu mà từ thế gian ra. Khôn ngoan đó không thuộc tâm linh mà thuộc ma quỉ.
15 Not nati na’atube i men marane enan, baise iti tafaram nowan. Orot babin biyahine naatu demon mowan biyanane enan.
16 Nơi nào có đố kỵ và ích kỷ, nơi đó có hỗn loạn và đủ thứ gian ác.
16 Anayabin menamaim bobowen naatu kabat ema’ama nati’imaim i fanasair naatu sawar kakafih ta ta imaim temamatar.
17 Nhưng sự khôn ngoan đến từ Thượng Đế thì trước hết là tinh sạch, rồi tới hòa thuận, dịu dàng và chân thật. Loại khôn ngoan nầy lúc nào cũng sẵn sàng giúp đỡ những người gặp khó khăn và làm ích cho kẻ khác. Lúc nào cũng phải chăng và lương thiện.
17 Baise not marane enan ana itinin wantoro’ot i aurin kato en; tufuw wairafin, ana tur hamehamen, kabeberayan, ana ofonah maumurih, ana bowabow ro’on gewasin, wanawanan men rerekabin.
18 Người làm việc cho hòa bình gieo trồng hoa màu tốt cho nếp sống phải lẽ.
18 Imih sabuw iyab tufuwamaim tufuw ana ub tetatanum yomaninamaim boro gewasin hinafour.

Ler em outra tradução

Comparar com outra

Estude este capítulo no WhatsApp

Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Tiago 3, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.