Tiago 1
Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI
1 Gia-cơ, tôi tớ của Thượng Đế và của Chúa Cứu Thế Giê-xu, kính gởi các dân Chúa đang sống tản lạc khắp nơi trên thế giới.
1 Baitumatumayah etei a tafaram kwaihamiy kwatit tafaram tata’amaim kwama’am, etei a merar ayiy. Ayu James God ana akir wairafin na’atube ata Regah Jesu Keriso ana akir wairafin kwa a fef akikirum.
2 Thưa anh chị em, khi gặp đủ thứ nghịch cảnh, hãy nên vui mừng,
2 Taitu, routobon fokarih yumatah ta ta isa hinamamatar ana veya, mar etei kwaniyasisir.
3 vì biết rằng nghịch cảnh thử nghiệm đức tin anh chị em, từ đó tạo ra tính nhẫn nhục.
3 Anayabin a baitumatum routobon nati na’atube nab kwanabisnowah ana veya baitafofor ana ef boro kwanaso’ob.
4 Hãy để tính nhẫn nhục nẩy nở đầy đủ trong việc làm, để anh chị em được hoàn toàn, không khiếm khuyết điều gì.
4 Naatu kwanabatkikin nawainabi kwanan yomanin kwanabisawar ufunamaim, boro men abisa ta isan niyababanimih.
5 Trong anh chị em có ai thiếu khôn ngoan, hãy cầu xin Thượng Đế. Ngài là Đấng rộng rãi, sẵn sàng ban cho mọi người, nên chắc hẳn Ngài sẽ cho anh chị em sự khôn ngoan.
5 Baise o yait kukokok ukwar narerekab, God isan inayoyoban, God boro nit, anayabin God i dogoron tutufin etei yasisiramaim sabuw etei ebitih.
6 Tuy nhiên khi cầu xin phải có lòng tin, không được ngờ vực; vì người hoài nghi giống như sóng biển nhấp nhô theo luồng gió.
6 Baise inayoyoyoban ana veya initumatum, men ere kasiy auman, anayabin orot yait erekasiy auman eyoyoyoban ana’itinin i tor yan yabat kotar ebabin in ebiyuwiyuw na’atube.
7 — ausente —
7 Orot yait ana not nati na’atube enotanot Regah biyanane boro men sawar ta nab.
8 — ausente —
8 Anayabin nati orot ana not i rou’ab ebinotanot, ana sinafumaim ana not ebiyuwiyuw.
9 Các tín hữu đang ở địa vị thấp hèn nên hãnh diện vì Thượng Đế đã khiến họ giàu có về tâm linh.
9 Kirisiyan orot yait yababan wairafin Regah nabobora’ah isan niyasisir nakawasa.
10 Còn người giàu cũng nên hãnh diện vì Thượng Đế đã khiến họ nghèo về tâm linh. Kẻ giàu sẽ chết như hoa dại trong đồng cỏ.
10 Naatu Kirisiyan orot yait guguw wairafin, God nab nayayare isan niyasisir, anayabin guguw wairafin sigar beran na’atube boro hinafenem hinare.
11 Mặt trời lên, nắng cháy khiến cỏ cây khô héo. Hoa rơi, vẻ đẹp tồi tàn. Cũng vậy, người giàu sẽ biến mất trong khi mải lo công việc làm ăn.
11 Veya wabuburinamaim beran earkimow, ana gewasin i’en hea’obow ere’er na’atube, orot guguw wairafin boro namorob ana sawar abisa’awat bow ma tafan yayababar boro nihamiyen.
12 Ai bị cám dỗ mà còn đứng vững, hãy vui mừng; vì sau khi đã chứng tỏ đức tin mình thì Thượng Đế sẽ ban thưởng cho họ sự sống đời đời là điều Ngài đã hứa cho những ai yêu mến Ngài.
12 Orot yait routobon wanawananamaim nabatkikin nawawainab boro baigegewasin nab. Anayabin routobon nati na’atube nabisnowaten ana maramaim, ana baiyan ma’ama wanatowan boro nab. Iti omatanen i sabuw iyab God tibiyabuw eomatanih.
13 Khi bị cám dỗ thì không nên nói, “Thượng Đế cám dỗ tôi.” Thượng Đế không bị điều ác nào cám dỗ, mà chính Ngài cũng không cám dỗ ai.
13 Orot yait routobon iti na’atube nabaib ana maramaim men nao, “Iti routobon i Godane enan.” Kwanaso’ob demon kakafin men kafa’imo God erurtubunimih naatu God men kafa’imo orot babin routobon ebitinimih.
14 Người ta bị cám dỗ khi dục vọng xấu xa bên trong thúc đẩy họ lầm lạc và khiến họ sập bẫy.
14 Baise routobon i orot taiyuwin biyan ana kok ebonawiy, kakafih sinaf kwanekwan enan taiyuwin ana warasa eona’on.
15 Dục vọng đó đưa đến tội lỗi, tội lỗi sinh sôi nẩy nở và dẫn đến sự chết.
15 Naatu i taiyuwin ana kakafih nayen namamaririb ufunamaim, ana bowabow kakafin boro nirerereb. Naatu bowabow kakafin ana yomaninamaim boro morob natita’ur.
16 Các anh chị em yêu dấu, chớ mắc lừa về điều nầy.
16 Imih taitu au yabow, sabuw men hinifufuwi. God men kafa’imo orot babin erurutubunihimih.
17 Mọi hành vi tốt đẹp và mọi ân tứ hoàn toàn đều từ Thượng Đế mà đến là Đấng dựng nên mặt trời, mặt trăng, các vì sao. Ngài không thay đổi như bóng di động của các tinh tú đó.
17 Usar gewasih naatu siwar mokobfouh etei i marane tenan. Tamat God marakaw ana baimatarenayan biyanane. I men kafa’imo boro nabotabir auwaraunane nigugum ina’itinimih, en anababatun.
18 Ngài đã ban cho chúng ta sự sống qua lời của chân lý để chúng ta đứng đầu trong mọi vật Ngài dựng nên.
18 God taiyuwin ana kokomaim Tur anababatun bai na itit ata yawas iboubun i natunatun tamatar. Saise it tatan sawar bimataren wanawanahimaim ata efan wantoro’ot tatab isan.
19 Anh chị em yêu dấu, lúc nào cũng phải mau nghe mà chậm nói. Đừng nóng tính,
19 Taitu au yabow, iti tur i men nuhi nabur! Tain i kwanarub gewas tur kwanowar, naatu tur o isan i yatenanub kwanao, na’atube yaso’ar isan men ya virivir hiniwa’an.
20 vì sự nóng giận không giúp anh chị em sống đẹp lòng Thượng Đế đâu.
20 Anayabin orot yait yan so’aso’arin God ana kok abisa yamutufurin isan boro men karam nasinaf.
21 Cho nên, hãy dẹp khỏi đời sống anh chị em mọi điều gian ác, mọi hành động sái bậy. Hãy hiền hòa đón nhận lời dạy của Thượng Đế đã được trồng trong lòng, là lời có thể cứu rỗi anh chị em.
21 Isan imih a kato etei naatu a tafasar etei susuw kwama’am kwanihamiyen, taiyuw kwanitaiy, God ana tur dogoromaim tatanum i kwanab, anayabin nati tur i boro niyawasi.
22 Hãy làm theo lời dạy của Thượng Đế, vì nếu chỉ nghe mà không làm, thì chỉ tự gạt mình thôi.
22 Men taiyuw inifufuwi ana’itinin o i tur kunonowar, baise tur inanowar naatu inia’ait.
23 Kẻ nào nghe lời Thượng Đế mà không làm theo, giống như người soi gương,
23 Orot yait tur nowar baise men ebi’a’it, ana’itinin i orot yumatan kiyam yan i’itin na’atube.
24 trông thấy mặt mình rồi bỏ đi, quên mất mặt mình ra sao.
24 Orot yumatan itinbunai sawar, tit inan ufunamaim mar ta’imon yumatan nuhin bur.
25 Nhưng người hạnh phúc thật là người học hỏi kỹ càng luật pháp toàn vẹn của Thượng Đế để giải thoát con người, họ tiếp tục học mãi. Họ không quên điều mình nghe, nhưng làm theo lời dạy của Thượng Đế.
25 Baise orot yait sabuw roufamih isan ana ofafar rousouwin na’itinbunai nanot nabia’ait, nati orot boro baigegewasin nab. Anayabin men turawat nowar nuhin burumih.
26 Ai cho mình ngoan đạo mà ăn nói bừa bãi thì chỉ tự gạt mình. “Đạo” của người đó thật vô dụng.
26 Naatu orot yait taiyuwin i’itin i Kirisiyan gewasin, baise menan ebi’uma’ar, nati orot ana Kirisiyan yawas i yabin en, taiyuwin ebifuwifuw.
27 Đạo được Thượng Đế xem như thanh sạch và hoàn toàn là: chăm sóc trẻ mồ côi và người góa bụa cần giúp đỡ, giữ mình khỏi bị ảnh hưởng xấu xa của thế gian.
27 Imih Tamat God matanamaim Kirisiyan orot anababatun gewasin naatu dogoron rousouwin ana bowabow i boro iti na’atube nasinaf. Kwafur baibin, kwatuw oro’orot, gagaganiy boro ninanawanih, naatu tafaram ana kato boro men biyan nikwahikwah.
Atalhos do teclado
- Capítulo anterior←
- Próximo capítulo→
- Versículo anteriork
- Próximo versículoj
- Limpar seleçãoEsc
- Esta ajuda?
Estude este capítulo no WhatsApp
Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Tiago 1, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.