Romanos 9

Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI

Sair da comparação
AAI TUR GEWASIN O BAIBASIT BOUBUN
1 Tôi ở trong Chúa Cứu Thế cho nên tôi nói thật, không nói dối với anh chị em điều nầy. Lương tâm tôi được Thánh Linh ngự trị và xác nhận rằng tôi không nói dối.
1 Ayu i Keriso wabinamaim tur anababatun ao, men abifufuwenamih. Anayabin dogorou naniyan atatatam Anun Kakafiyin ebibasit ayu abisa ao.
2 Tôi hết sức đau khổ và luôn luôn buồn rầu.
2 Ayu dogorou wanawanan yababan awan karatan, naatu baiyufarir isan abiwa’an men ekakaram.
3 Tôi rất muốn giúp đỡ anh chị em tôi là người Do-thái, dân tộc tôi. Đến nỗi tôi ước ao rằng nếu vì họ mà chính mình tôi bị nguyền rủa và bị phân cách khỏi Chúa Cứu Thế, tôi cũng sẵn lòng.
3 Anayabin ayu au sabuw, biyau finimu turin naatu au rara anababatun, i wabihimaim mi’itube God tao rarafu. Naatu Keriso’one hita’afuru’umu atatit nabin,
4 Họ là dân Ít-ra-en, con cái được Thượng Đế tuyển chọn. Họ đã thấy vinh hiển Ngài và cũng đã nhận giao ước mà Thượng Đế đã lập với dân Ngài. Thượng Đế cho họ luật pháp Mô-se đồng thời chỉ bảo họ cách thờ phụng Ngài và cho họ lời hứa của Ngài.
4 saise Israel sabuw yawas hitab, God natunatunamih hitamatar: ana marakaw, ana obaibasit, ana obaiyunen tur hitab, kwafiren anababatun, naatu ana omatanen isah tirerereb.
5 Họ là con cháu của những ông tổ nổi danh của chúng ta, và thuộc về quốc gia mà Đấng Cứu Thế xuất thân, Ngài là Thượng Đế cao cả, đáng chúc tụng đời đời. A-men.
5 Nati sabuw hai a’agir kwafe’en i Hebrew big ana kik owe’owen, imaim gin tanay boro tanan Keriso ana tufuw ana’an tanatit. God akisinamo sawar etei ana bonawiyenayan tanabora’ara’ah wanatowan wanatowan. Amen.
6 Không phải Thượng Đế chẳng giữ lời hứa đối với họ. Nhưng chỉ có một số người Ít-ra-en là con dân thật của Thượng Đế,
6 Baise God ana omatanen i men ta baifuwenamih, mar etei i yabih temamatar. Iti ao anayabin Israel sabuw etei hai tufuw ana’an i Israelane hitufuw, baise etei’imak boro men hinan Israel sabuw hinamataramih.
7 và cũng chỉ có một số ít con cháu Áp-ra-ham là con cháu thật của Áp-ra-ham thôi. Thượng Đế bảo Áp-ra-ham rằng, “Dòng dõi của ngươi mà ta hứa sẽ ra từ Y-sác.”
7 Na’atube Abraham ana rara’ane hitutufuw men etei Abraham natunatunamih. Bukamaim God iti na’atube eo hikirum inu’in kwaso’ob. “O natu Isaac ana rara’ane iti omatanen abit boro i hinab.”
8 Như thế nghĩa là không phải tất cả con cháu của Áp-ra-ham đều là con cái thật của Thượng Đế đâu. Con cháu thật của Áp-ra-ham là những người trở thành con cái Thượng Đế qua lời hứa của Ngài cho Áp-ra-ham.
8 Tur iti na’atube ana kubuna kwananowar, God natunatun i men Abraham ana rara’amaim hitutufuw akisih ebowabowamih. Baise sabuw iyab omatanenane hitutufuw God natunatun i nati sabuw.
9 Lời hứa của Thượng Đế cho Áp-ra-ham như sau, “Vào lúc nầy khi ta trở lại, Sa-ra sẽ sinh một con trai.”
9 Anayabin God Abraham iti na’atube eomatan, Veya ayai’iya’imaim boro ana matabir naatu Sarah boro nataub kek orot nayai.
10 Không những thế, hai con trai của Rê-be-ca cùng có chung một cha là Y-sác, tổ tiên chúng ta.
10 Men nati akisin baise kwana’itin, Rebecca auman toub kek kikif ya, tamah ta’imon ata’agir Isaac.
11 — ausente —
11 Anakubuna gewas kwananowar, kek kikif wanawanahimaim kek ta bai ana kok abisa yayakitifuw isan, naatu Rebecca iu, “Kek ain boro tain isan nabow.” Kek i men hitufuw,
12 — ausente —
12 naatu men sawar ta gewasin o kakafin hisinafumih, baise i ana yayakitifuwen tafanamaim bat ta rubin. Men i hai bowabowamaim ta rubinimih, en.
13 Như Thánh Kinh viết, “Ta yêu Gia-cốp mà ghét Ê-sau.”
13 Bukamaim hikirum inu’in kwaso’ob, “Jacob i ayu abiyabuw, baise Esau i ayu abifa’ifai.”
14 Thế thì chúng ta nghĩ sao? Có phải Thượng Đế bất công không? Không phải.
14 God isan boro mi’itube tanao? I bowabow kakafin orot? Aiyabin anababatun!
15 Thượng Đế bảo Mô-se, “Ta muốn làm ơn cho ai thì làm, ta muốn thương ai thì thương.”
15 Anayabin Moses isan eo, “Ayu orot babin yait ta anarurubin i boro anakabibir.”
16 Như thế, sự lựa chọn của Ngài không tùy thuộc vào ý muốn người nào hay do cố gắng mà được.
16 Isan imih sawar etei i men it sabuw takokok o tabowabowamaim emamatar, baise sabuw iyab God ana kokomaim ekakabibirih.
17 Trong Thánh Kinh, Thượng Đế bảo vua Ai-cập như sau, “Ta lập ngươi làm vua vì lý do nầy: Để chứng tỏ quyền năng của ta qua ngươi và để cho danh ta được phổ biến khắp đất.”
17 Anayabin Buk Atamaninamaim hikirum inu’in, Moses Egypt hai aiwob orot isan eo, “Anayabin iti isan ayu abora’ahi efan yatetoro’ot ayara’ahi. Saise ayu au fair wanawanamaim anayai nabow naatu ayu wabu nara’at tafaram tutufin etei hinanowar.”
18 Như thế, Thượng Đế muốn thương xót ai thì thương xót, làm ai cứng lòng thì làm.
18 Isan imih, God ebiyasisir sabuw iyab baibais tekokok boro nibaisih, baise sabuw iyab dogoroh efofokar boro niwa’an hinafokar.
19 Có lẽ anh chị em sẽ hỏi tôi, “Vậy tại sao Thượng Đế còn khiển trách chúng ta về tội lỗi chúng ta?” Có ai chống lại ý muốn Ngài được đâu?
19 Kwa orot ta ayu isau boro iti na’atube inao, “Aisimamih God aki ebi’ubari? Yait boro ana kok nakwahir?”
20 Các anh chị em chỉ là người, mà hễ là người thì không có quyền hạch hỏi Thượng Đế. Đồ vật có quyền gì để hỏi người làm ra mình rằng, “Tại sao anh làm tôi như thế nầy?”
20 O i yait, orot maiyow aisim God awan kuyayafutifut? Noukwat men karam boro ana bu’urayan isan nao, ‘Aisim iti na’atube ibu’uru?’
21 Thợ gốm muốn nắn hình gì thì nắn. Cùng một tảng đất sét mà người thợ có thể vừa làm ra một món đồ dùng đặc biệt và một món đồ dùng tầm thường.
21 Orot noukwat bu’irayan i akisin ana kokomaim me ta’imonamaim noukwat boro rou’ab nabu’ir, ta hiyuw ana noukwat, ta veya maiyow baitab isan ana noukwat.
22 Thượng Đế cũng thế. Ngài muốn tỏ cơn giận của Ngài để con người thấy uy quyền của Ngài. Nhưng Ngài cũng nhẫn nhục chịu đựng những người mà Ngài nổi giận—là những người đáng bị diệt.
22 God ana yaso’ar i kok kwanekwan boro sabuw ti’obaiyih. Iyab hisisinaf kakaf isan tagurusih, saise ana fair imaim hita’itin, baise nati efanin i yatenub wainab bairi hima.
23 Ngài kiên nhẫn chờ đợi để tỏ ra vinh hiển vô hạn của Ngài cho những người mà Ngài thương xót. Ngài đã chuẩn bị họ trước để nhận vinh hiển của Ngài,
23 Iti na’atube sinaf, saise i ana marakaw bonamanamarin ti’obaiyit tata’itin naatu ana sabuw iyab kabibirih bairi ana marakaw faram isan rurubinih auman tataso’ob.
24 và chúng ta chính là những người được chọn ấy. Ngài kêu gọi chúng ta không những từ giữa vòng người Do-thái mà còn từ những người không phải Do-thái nữa.
24 Anayabin it sabuw i God ea’afit, men Jew sabuw akisih, baise Ufun Sabuw auman ea’afih.
25 Như lời Thánh Kinh viết trong Ô-sê,
25 God ana tur iti na’atube eo Hosea ana Bukamaim kirum.
26 “Trước kia Thượng Đế bảo:
26 Nati efamaim God eo, “Kwa i men ayu au sabuw.” Baise i boro nao, “Kwa i God ma’ama wanatowanin natunatun.”
27 Ê-sai cũng đã lên tiếng về dân Ít-ra-en rằng:
27 Isaiah Israel sabuw isah tur rererebamaim eo, “Kwa Israel sabuw i tor ana dones na’atube, God boro matan ta’amo niyawasih.
28 vì Chúa sẽ nhanh chóng trừng phạt toàn thể dân cư trên đất.” Ê-sai 10:22-23
28 Anayabin, Regah i saise’ewat esisinaf sabuw tafaramamaim tema’am etei boro marta’imon baimakiy nitih nasawar.”
29 Và như tiên tri Ê-sai đã nói,
29 Marasika iti tur Isaiah eo, “Regah Fairin men agir hai durun ta ebihamiy i, it boro tatan bar merar Sodom naatu Gomorah hairi bi’afiyih na’atube ti’afiyit.”
30 Điều ấy có nghĩa gì? Những người chẳng phải Do-thái không thể tìm cách hòa thuận với Thượng Đế nhưng họ được hòa thuận lại với Ngài qua đức tin.
30 Tur yomanin boro iti na’atube tanao, Ufun Sabuw i men ofafar hinuwih hibai imaim God hai ef mutufurin rouw eorerebamih, baise abisa Keriso isah sisinaf hitumatum imih God hai ef mutufurin rouw eorereb.”
31 Còn dân Ít-ra-en tìm cách tuân theo luật pháp để hòa thuận lại với Thượng Đế thì không kết quả.
31 Baise Israel sabuw ofafar hinuwih hinotanot hai ef i mutufor hirouw hio, baise en, anayabin i ofafar eo’omaim hisisinaf.
32 Tại sao? Vì họ ỷ lại vào việc làm của mình chớ không nhờ vào Thượng Đế để hòa thuận lại với Ngài. Họ vấp nhằm tảng đá vốn làm cho nhiều người vấp.
32 Ana’an aisim? Ana’an i men baitumatumamaim hibat, baise abisa i hisisinafumaim hibat. Imih a rousukusukunen ana kabayamaim ah rusukun hire.
33 Như Thánh Kinh viết,
33 Bukamaim hikikirum na’atube,

Ler em outra tradução

Comparar com outra

Estude este capítulo no WhatsApp

Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Romanos 9, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.