Romanos 7

Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI

Sair da comparação
AAI TUR GEWASIN O BAIBASIT BOUBUN
1 Thưa anh chị em, anh chị em đều hiểu luật Mô-se và biết rằng luật pháp áp dụng cho người nào là chỉ khi người ấy còn sống mà thôi.
1 Taitu, abisa isan anao i kwa kwaso’ob, anayabin kwa etei’imak ofafar i kwaso’ob. Ofafar i orot babin yawasin ema’am ana veya i ebobonawiy.
2 Chẳng hạn, chồng còn sống bao lâu thì luật buộc người đàn bà phải gắn bó với chồng bấy lâu. Nếu chồng chết thì người vợ được giải thoát khỏi luật hôn nhân.
2 Itinin ta i boro iti na’atube kwana’itin, tautabin babin aawan yawasin ema’ama ana veya ofafaramaim eo’o, nati babin i boro orot biyanamaim nafatum nama. Baise orot namomorob ufunamaim babin i tabin ana ofafarane hirufam.
3 Trong khi chồng còn sống mà vợ đi lấy người khác thì bị luật pháp kết tội ngoại tình. Nhưng khi chồng chết rồi, thì dù cho lấy người khác cũng không bị kết tội ngoại tình.
3 Isan imih babin aawan yawasin ema’am ana veya i orot ta nabi’awan, nati babin i moser kwebayan. Baise orot emomorob ana veya, nati babin i ofafarane tit. Naatu orot ta nabi’awan na’at i men moser kwebayan.
4 Cũng thế, thưa anh chị em, khi con người cũ của mình chết rồi, thì anh chị em được giải thoát khỏi luật pháp, nhờ sự chết của Chúa Cứu Thế. Nghĩa là, ngày nay các anh chị em thuộc về một Đấng khác—Đấng đã sống lại từ kẻ chết—để anh chị em sống ích lợi cho Thượng Đế.
4 Imih taitu tuwai’inah, ef ta’imon nati na’atube Keriso ana morobomaim baitumatumayah ofafar ana fairane rufamih hitit. Imih i ana misir maiye’emaim baita’ay boubun ana ef imatar, naatu boun morobone God biyawas maiye i nowan kwamatar, saise it bowayah gewasih na’atube God isan tanabow.
5 Trước kia anh chị em bị con người tội lỗi của mình thống trị. Luật pháp khiến chúng ta hành động theo tội lỗi thống trị bên trong chúng ta, cho nên mọi hành động chúng ta chỉ dẫn đến sự chết.
5 Anayabin it taiyuwit biyat ana kok isan tanotanot ana veya, ofafar run biyat ana kok kakafin kura’ara’ah naatu biyat tutufin etei bonawiy in morobomaim yai.
6 Trước kia, luật pháp kềm giữ chúng ta như tù nhân, nhưng nay con người cũ đã chết, nghĩa là chúng ta được giải thoát khỏi luật pháp. Cho nên chúng ta phục vụ Thượng Đế theo cách mới trong Thánh Linh, chứ không theo cách cũ qua những luật viết thành chữ nữa.
6 Baise boun, it nati ofafar fatumit tamorob ta’inu’in, God nati fatufatumane rufamit tatit. Anun Kakafiyin ana ef boubunamaim tabowabow, men ef atamanin ana ofafar hikirum inu’in tai’ufunun tabowabowamih.
7 Có lẽ anh chị em nghĩ rằng tôi cho luật pháp là tội lỗi. Không phải! Nhưng luật pháp cho tôi biết thế nào là tội lỗi. Nếu luật pháp không nói, “Ngươi không được thèm muốn đồ vật của kẻ khác” thì tôi sẽ không biết tội trộm cắp là gì.
7 Imih ofafar i bowabow kakafin sinafuyan tanarouw tanao? En anababatun! Baise ofafar en na’at ayu au kakafih boro mi’itube ataso’ob. Anayabin ofafar men tama’am na’at ayu boro mi’itube bahiy isan hiofafar ataso’ob.
8 Tội lỗi đã tìm cách dùng điều răn ấy khiến tôi tham muốn đủ thứ điều trái phép. Nhưng khi không có luật pháp, tội lỗi không có quyền gì.
8 Baise bowabow kakafin nati ofafaramaim ana ef tita’ur run ayu wanawana’umaim kura’ara’ah sawar kakafih asisinaf. Ofafar men tama’am na’at, bowabow kakafin i boro ana fair men tama.
9 Trước khi tôi biết luật pháp thì tôi vẫn sống, nhưng khi luật pháp đến thì tội lỗi sống trong tôi,
9 Marasika ayu ofafar men asoso’ob ana veya ayu i yawasu ama, baise obaiyunen tur tit anonowar ana veya bowabow kakafin yawas naatu ayu amorob.
10 còn tôi thì chết. Điều răn đáng lẽ giúp tôi sống, hóa ra làm cho tôi chết.
10 Obaiyunen tur nati yawas bai na hirouw hio atitita’ur i morob bai na.
11 Tội lỗi đã tìm cách phỉnh gạt tôi bằng cách dùng luật pháp làm cho tôi chết.
11 Anayabin bowabow kakafin, iti obaiyunen turamaim ana ef bai ayu ifuwu naatu easbunu.
12 Cho nên luật pháp là thánh thiện, điều răn cũng thánh thiện, tốt và công chính.
12 Isan imih ofafar i kakafiyin, naatu obaiyunen tur i kakafiyin, mutufurin naatu gewasin.
13 Như thế nghĩa là điều tốt lại mang cái chết đến cho tôi sao? Không phải! Tội lỗi dùng cái tốt để mang cái chết đến cho tôi. Như thế để tôi biết tội lỗi là gì, và điều răn cho thấy tội lỗi quả thật là xấu.
13 Imih iti sawar gewasin imaim sinaf ayu au morob bai na? En anababatun! Baise bowabow kakafin i ayu easbunu, isan imih bowabow kakafin taiyuwin ana yawas botait irerereb, sawar gewasin wanawanan wa’ir na ayu imurubu. Naatu nati obaiyunenamaim bowabow kakafin na kakafin, kakafin anababatun matar.
14 Chúng ta biết luật pháp là thiêng liêng, nhưng tôi không thiêng liêng vì tôi làm nô lệ cho tội lỗi.
14 It taso’ob ofafar i ayubit isan; baise ayu i orot maiyow, bowabow kakafin ana akir wairafinamih tubunu.
15 Tôi không hiểu điều mình làm. Tôi không làm điều mình thích mà lại làm điều mình ghét.
15 Abisa asisinaf hai yabih men asoso’ob, anayabin abisa sinafumih akokok i men asisinaf, baise abisa abifutuw i asisinaf.
16 Nếu tôi làm điều tôi ghét, thì tôi nhìn nhận luật pháp là đúng.
16 Naatu baise, abisa asisinaf i abisa men akokok i asisinaf nati i ayu abibasit ofafar i gewasin.
17 Nhưng thực ra không phải tôi làm những điều tôi ghét mà là do tội lỗi bên trong xui khiến tôi.
17 Imih nati i men ayu asisinafumih, baise bowabow kakafin iti wanawana’umaim ema’am i esisinaf.
18 Thật thế, tôi biết trong con người tôi chẳng có tính thiện nào—nghĩa là trong xác thể trần tục và tội lỗi của tôi không có cái gì gọi là thiện cả. Tôi muốn làm điều phải mà tôi lại không làm.
18 Ayu so’ob wanawana’umaim i men gewasin ta ema’am, nati i ayu biyau naniyan kakafin. Anayabin ayu au kok gagamin i mi’itube gewasin ata sinaf, baise sinaf isan men karam boro anasinaf.
19 Điều thiện mình muốn làm, thì không làm, nhưng lại làm điều ác mà mình không muốn.
19 Anayabin abisa gewasin sinafumih anotanot i men asisinafumih. Baise kakafih men akokok sinaf nati i ama asisinaf.
20 Cho nên khi tôi làm điều mình ghét, thì chẳng phải tôi làm nữa mà là tội lỗi bên trong xui khiến tôi.
20 Naatu ayu sawar abisa men akokok i asisinaf, nati i men ayu asisinaf, baise bowabow kakafin wanawana’umaim ema’am i esisinaf.
21 Nên tôi đã học được luật nầy: Khi muốn làm điều thiện, thì điều ác đeo đuổi tôi.
21 Isan imih iti ofafar ana ef mi’itube ebowabow i atita’ur. Ayu bowabow gewasin sinafumih anotanot ana veya, bowabow kakafin i mar etei etitit.
22 Lòng tôi rất ưa thích luật pháp Thượng Đế,
22 Ayu wanawanau i ebiyasisir gagamin maiyow God ana ofafar isan.
23 nhưng tôi lại thấy một luật khác tác động bên trong con người tôi, chiến đấu với luật mà lòng tôi đã chấp nhận. Đó là luật tội lỗi sống trong tôi, cố bắt tôi làm tôi mọi cho nó.
23 Baise ayu biyau wanawanan efan tata’ane ofafar ta ayu au not ana ofafar hairi hibiyow atatam. Nati baiyowamaim iwa’an ayu buwu bowabow kakafin ana ofafar wanawan dibur yariyu.
24 Thật khốn cho tôi! Ai sẽ giải thoát tôi khỏi thân thể chết nầy?
24 Ayu i yababan orot! Yait boro iti biyau murubinane niyawas nabotait.
25 Cảm tạ Thượng Đế đã cứu tôi qua Giê-xu, Đấng Cứu Thế, Chúa chúng ta!
25 God ana merar ayiy Jesu Keriso’one ayu boro niyawasu. Imih ayu au not i boro God ana ofafar isan ni’akir nabow, baise ayu biyau i bowabow kakafin ana ofafar isan ni’akir nabow.

Ler em outra tradução

Comparar com outra

Estude este capítulo no WhatsApp

Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Romanos 7, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.