Romanos 6
Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI
1 Anh chị em có nghĩ rằng chúng ta nên tiếp tục sống trong tội lỗi để ân phúc Thượng Đế thêm nhiều không?
1 Abistan boro tanao? It na’atuka tanama bowabow kakafih tanasinaf, saise God ana manaw ana kabeber tafan nayababar nara’at?
2 Không được! Chúng ta đã chết vì nếp sống cũ của bản tính tội lỗi, thì chẳng lẽ lại cứ mãi sống trong tội lỗi sao?
2 Men karam! It i bowabow kakafinane tamorob, aisim biyat boro namatabir bowabow kakafinamaim nama maiye?
3 Anh chị em quên rằng khi chúng ta chịu lễ báp-têm là đã trở thành một phần của thân thể Đấng Cứu Thế Giê-xu rồi sao? Chúng ta dự phần trong cái chết Ngài qua lễ báp-têm.
3 Na’atube Keriso Jesu wanawananamaim kwarun bapataito kwabaib ana veya, morob auman ana bapataito kwabaib men kwaso’ob?
4 Khi chúng ta chịu báp-têm, chúng ta được chôn với Chúa Cứu Thế và dự phần trong cái chết của Ngài. Cho nên như Chúa Cứu Thế đã sống lại từ kẻ chết qua quyền năng kỳ diệu của Cha thế nào, chúng ta cũng sẽ sống một đời mới như thế.
4 Isan imih it ata bapataito’omaim Keriso bairi hubemaim tare, ana morob bairi tafaram, saise Keriso hubene Tamah ana fairamaim iyawas maiye mimisir na’atube, it auman tanamisir yawas boubunamaim tanama.
5 Vì Chúa Cứu Thế chịu chết, chúng ta đồng chết với Ngài, nên chúng ta cũng sẽ đồng sống lại với Ngài từ kẻ chết giống như Ngài.
5 I ana morobomaim it bairit iti na’atube tanikofan tanamomorob na’at, i ana misiramaim turobe boro bairit tanamisir maiye.
6 Chúng ta biết rằng đời cũ của chúng ta đã chết với Chúa Cứu Thế trên thập tự giá, để bản tính tội lỗi không còn cầm quyền và chúng ta không còn làm nô lệ cho tội lỗi nữa.
6 Anayabin it biyat atamanin onaf afe’en Keriso hairi hi’onafih himomorob i taso’ob, saise biyat men tama bowabow kakafin isan ti’akiramih,
7 Vì ai đã chết là thoát khỏi gông cùm tội lỗi.
7 Anayabin orot babin yait emomorob ana veya bowabow kakafin ana fairane ikitawiy tit.
8 Nếu chúng ta chết với Chúa Cứu Thế, thì chúng ta biết mình cũng sẽ sống lại với Ngài.
8 Naatu Keriso bairi tanamomorob na’at, tabitumatum i ema’amamaim it auman boro bairit tanama.
9 Chúa Cứu Thế đã sống lại từ kẻ chết, chúng ta biết rằng Ngài không thể chết nữa. Sự chết hiện nay chẳng còn quyền gì trên Ngài.
9 Anayabin it etei taso’ob Keriso i morobone misir maiye, naatu boro men karam namorob maiye, morob ana fair i wasatan.
10 Thật vậy, khi Chúa Cứu Thế chịu chết thì Ngài đánh bại quyền lực của tội lỗi một lần đủ cả. Bây giờ Ngài đã nhận sự sống mới nên Ngài sống cho Thượng Đế.
10 Imih nati morob i momorob i sabuw etei hai bowabow kakafin isan mar ta’imon morob, mar moumurih na’in isan, baise yawas iti boun ema’am i God ana yawasamaim ema’ama.
11 Cũng thế, anh chị em hãy xem mình như chết về quyền lực của tội lỗi nhưng sống với Thượng Đế qua Chúa Cứu Thế Giê-xu.
11 Ef nati ta’imon, kwa taiyuw kwanasu’ubi, bowabow kakafinamaim kwa easbuni kwamorob, baise Jesu Keriso’one God ana yawasamaim boun kwama’am.
12 Cho nên đừng để tội lỗi thống trị đời sống anh chị em trên đất đặng làm theo ý muốn con người xác thịt của mình.
12 Isan imih men kafa’imo kwanibasit bowabow kakafin kanab nabonawiy ana kok kakafih kwani’ufunun.
13 Đừng hiến dâng chi thể mình mà phục vụ tội lỗi, làm công cụ cho điều ác. Trái lại hãy hiến dâng chính mình cho Thượng Đế như là người đã chết mà nay được sống lại. Hãy hiến thân thể mình cho Thượng Đế, để phục vụ điều lành.
13 Men biya turin kwanibasit bowabow kakafin nab ana not kakafih nasinafumih, baise nati efanin taiyuw biya God kwanitin, sabuw yawasihibe kwanasinaf men murubihibe. Naatu biya tutufin etei God ana kokok gewasih sinaf isan kwanitin.
14 Tội lỗi không còn thống trị anh chị em nữa, vì anh chị em không còn ở dưới luật pháp nhưng ở dưới ân phúc của Thượng Đế.
14 Bowabow kakafin men kafa’imo kwa isa ni’ukwarin, anayabin kwa i men ofafar babanamaim kwama’amamih, baise God ana manaw ana kabeber babanamaim kwama’am.
15 Thế thì chúng ta phải làm sao? Chẳng lẽ vì bây giờ chúng ta không còn ở dưới luật pháp mà ở dưới ân phúc thì chúng ta cứ phạm tội sao? Không được!
15 Imih abisa boro tanao? Bowabow kakafin tanasinaf? Anayabin it men ofafar babanamaim tama’am baise God ana manaw ana kabeberamaim tama’am? Men karam!
16 Chắc hẳn anh chị em biết rằng khi mình chịu làm tôi mọi cho người nào thì phải vâng phục người ấy. Người mà mình vâng phục là chủ mình. Anh chị em có thể đi theo tội lỗi để dẫn đến cái chết về mặt thiêng liêng hoặc vâng theo Thượng Đế là Đấng có thể khiến anh chị em hòa thuận với Ngài.
16 Kwaso’ob ai en, o yait taiyuw orot ta initin isan ini’akir inabobosiyasiyar, o i nati orot ana’akir wairafin babanamaim kuma’am. Imih o yait bowabow kakafin isan inabi’akir yomanin i morob, naatu God inabobosiyasiyar yomanin i yawas mutufurin.
17 Trước kia anh chị em làm nô lệ cho tội lỗi—tội lỗi thống trị anh chị em. Nhưng tạ ơn Thượng Đế, anh chị em đã hoàn toàn vâng theo những điều được dạy bảo.
17 Baise God ana merar ayiy, anayabin marasika kwa i bowabow kakafin ana aiwobomaim kwama isan kwabi’akir. Baise boun dogor tutufin etei bai’obaiyen abit i kwabai kwabi’ufunun.
18 Đã được giải thoát khỏi tội lỗi, bây giờ anh chị em làm nô lệ cho điều thiện.
18 Kwa i bowabow kakafinane hirufami kwatit, naatu kwana yawas gewasin isan kwabi’akir.
19 Tôi phải dùng ví dụ nầy vì hơi khó cho anh chị em hiểu. Nếu trước kia anh chị em hiến dâng thân thể mình làm nô lệ cho tội lỗi và điều ác; chỉ sống cho điều ác thôi. Cũng thế, nay anh chị em hãy hiến thân thể mình để làm tôi cho điều thiện. Nghĩa là anh chị em chỉ sẽ sống cho Thượng Đế mà thôi.
19 Mar etei tao’omaim ao, anayabin kwa a not i boro’ika ririmin. Marasika kwa biya turin i bowabow kakafin sinaf isan kwaibasit kwaitin sisinaf. Imih boun i ef ta’imon nati na’atube kwanasinaf biya tutufin etei kwanab God ana bowabow isan kwanaya’asair, saise yawas gewasin isan ni’akir.
20 Trước kia anh chị em làm nô lệ cho tội lỗi nên điều thiện không quản trị anh chị em.
20 Bowabow kakafin isan kwabi’akir ana maramaim, yawas gewasin sinaf i ana ufunane kwama.
21 Trước kia anh chị em làm điều ác, đến nỗi ngày nay anh chị em vẫn còn xấu hổ về việc ấy. Những điều ác đó chỉ dẫn đến sự chết.
21 Nati ana veya sawar iti boun kwasisinaf isan biya eo’ohow hai gewasin i abisa kwabai? Nati sawar hai yomanin i morob.
22 Nhưng nay anh chị em đã thoát khỏi tội lỗi, và trở thành nô lệ cho Thượng Đế để sống cho Ngài và nhận sự sống đời đời.
22 Baise boun kwa i bowabow kakafinane hirufami kwatit kwana God ana’akir wairafin kwamatar. Ana gewasin kwabaib i kwa ayawas tutufin etei nawiy kakafiyin matar, naatu nati sawar yomanin i ma’ama wanatowan.
23 Ai phạm tội thì phải lãnh tiền công của tội lỗi—đó là sự chết. Nhưng quà tặng của Thượng Đế là sự sống đời đời trong Đấng Cứu Thế Giê-xu, Chúa chúng ta.
23 Anayabin bowabow kakafin ana baiyan i morob, baise God ana siwar i ma’ama wanatowan Keriso Jesu wanawananamaim ema’am.
Atalhos do teclado
- Capítulo anterior←
- Próximo capítulo→
- Versículo anteriork
- Próximo versículoj
- Limpar seleçãoEsc
- Esta ajuda?
Estude este capítulo no WhatsApp
Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Romanos 6, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.