Romanos 4

Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs MNT

Sair da comparação
MNT Minaifia NT
1 Chúng ta có thể nói Áp-ra-ham, tổ tiên của dân tộc ta, đã học được gì về đức tin?
1 Abraham it uwat regah biyanamaim sawar abisa himatar, imaim itah soso’ob isah boro mi’itube tanao?
2 Nếu Áp-ra-ham được hòa thuận với Thượng Đế nhờ những điều ông làm thì ông sẽ có lý do chính đáng để khoe. Nhưng Áp-ra-ham không thể tự khoe trước Thượng Đế.
2 Anayabin Abraham ana bowabowamaim yamutufuren nabaib na’at, i karam ana ef ema’am boro nao ra’ara’at, baise men God nanamaim.
3 Vì Thánh Kinh viết, “Áp-ra-ham đặt niềm tin nơi Thượng Đế, Ngài chấp nhận niềm tin của ông và niềm tin ấy khiến ông hòa thuận lại với Ngài.”
3 En baise, Buk Atamaninamaim iti na’atube eo? “Abraham God itumitum naatu i ana baitumatumamaim God yamutufuren ana i’inanen itin.”
4 Ai làm việc thì lương bổng không thể xem là quà biếu mà là tiền công của mình.
4 Orot ebowabow isan tibibaiyan, nati i men ana siwar tibitin baise ana bowabow isan baiyan tibitin.
5 Nhưng con người không thể làm cách nào để hòa thuận lại với Thượng Đế được. Nên con người phải trông cậy vào Thượng Đế là Đấng có thể khiến cho kẻ ác hòa thuận lại với Ngài. Thượng Đế sẽ chấp nhận đức tin của họ, nhờ đó họ được hòa thuận lại với Ngài.
5 Orot yait ana bowabow men i’itin, baise ibitumitum God i sabuw kakafih eyayamutufurih. Nati orot boro yamutufuren ana’i’inanen Godane nab, anayabin ebitumatum, men ana bowabowamaim.
6 Đa-vít cũng đã nói tương tự như thế. Ông bảo rằng ai được hòa thuận với Thượng Đế, nghĩa là được Ngài tha thứ những tội lỗi của mình, thật có phúc.
6 Buk Atamaninamaim David i tur ta’imon eo, orot yait yamutufuren ana’i’inanen God bitin boro baigegewasin nab, men ana bowabowamaim. Imih David iti na’atube eorereb eo,
7 “Phúc cho người nào được xóa hết tội,
7 — ausente —
8 Phúc cho kẻ mà Chúa không kết tội.” Thi thiên 32:1–2
8 — ausente —
9 Có phải phúc lành nầy chỉ dành cho người được cắt dương bì thôi hay là cũng dành cho người không được cắt dương bì nữa? Chúng ta đã nói rằng Thượng Đế chấp nhận niềm tin của Áp-ra-ham và chính niềm tin ấy khiến ông hòa thuận lại với Ngài.
9 Iti baigegewasin i sabuw iyab hai ar kanabih hi’a’afuw akisih isah, ai hai ar afuwa’e tema’ama auman isah? Baise boun tanowar, “Abraham i ana baitumatumamaim God dogoron botabir ana ef mutufurin rouw eo.”
10 Ông được hòa thuận ra sao? Thượng Đế chấp nhận Áp-ra-ham trước khi ông chịu phép cắt dương bì hay là sau?—Trước khi ông chịu phép cắt dương bì.
10 Iti sawar i mi’itube matar? Abraham ana ar afuwina’e ma’am ana veya matar o ana ar hi’a’afuw ufunamaim matar? Baise anao kwananowar, Abraham i wan God ana baibasit wanawanan run, imaibo ana ar i uf hi’afuw.
11 Áp-ra-ham chịu cắt dương bì để chứng tỏ ông đã hòa thuận lại với Thượng Đế vì ông tin Ngài trước khi chịu cắt dương bì. Cho nên Áp-ra-ham trở nên cha của những người tin nhưng không được cắt dương bì; ông là cha của mọi tín hữu đã hòa thuận lại với Thượng Đế.
11 Naatu nati ar afu’afuw i Abraham ana baitumatumamaim yamutufuren baib ana i’inanen. Iti sawar i Abraham ana ar kanabin auman ma’am ana veya matar. Isan imih sabuw iyab hai ar kanabih auman baise hina baitumatumayah himamatar tamah i Abraham, anayabin i hai baitumatumamaim God hai ef mutufurin rouw eorereb.
12 Áp-ra-ham cũng đồng thời là cha của những người đã chịu cắt dương bì và sống theo niềm tin mà Áp-ra-ham, tổ tiên chúng ta đã có trước khi chịu cắt dương bì.
12 Naatu Abraham auman i tamah, men ar afu’afuw akisin, baise Abraham ana baitumatumamaim ana’ar kanabin auman ma reremor tibi’ufunun auman.
13 Áp-ra-ham và dòng dõi ông đã nhận lời hứa rằng sản nghiệp của họ sẽ gồm toàn thế giới. Ông nhận lời hứa ấy không nhờ luật pháp mà nhờ giảng hòa lại với Thượng Đế qua đức tin.
13 Abraham wawawan bairi God tafaram nowahimih baitih isan eo’omatanih ana veya i men ofafar bobosiyasiyar isan. Baise ana baitumatumamaim ana ef mumutufor isan.
14 Nếu chúng ta có thể nhận được lời hứa của Thượng Đế bằng cách tuân giữ luật pháp thì đức tin trở nên vô ích. Lời hứa của Thượng Đế cho Áp-ra-ham cũng vô ích,
14 Anayabin sabuw iyab ofafar tebobosiyasiyar isan God ana omatanen nabitih na’at, baitumatum i boro nan ana’an en namatar naatu God ana omatanen i owararin.
15 Vì luật pháp chỉ đưa đến cơn thịnh nộ của Thượng đế mà thôi. Nhưng nơi nào không có luật pháp thì cũng không có việc phạm pháp.
15 Ofafaramaim ya so’ar emamatar, baise efan menamaim ofafar men ema’am, asto’oben men ema’ama.
16 Cho nên chúng ta nhận được lời hứa của Thượng Đế qua đức tin. Lời hứa ấy trở thành một quà tặng, mà tất cả con cháu Áp-ra-ham đều có thể nhận. Lời hứa ấy không phải dành cho những người sống dưới luật pháp Mô-se mà là cho những người sống trong đức tin như Áp-ra-ham, tổ phụ chúng ta.
16 Isan imih omatanen etei i baitumatumamaim emamatar, saise manaw kabeber Godane nan Abraham wawawan etei isah, men sabuw iyab ofafar tebobosiyasiyar akisih isah. Baise baitumatumayah auman Abraham bitumatum na’atube. Anayabin it etei ayubit isanane tamat i Abraham.
17 Như Thánh Kinh viết, “Ta lập ngươi làm cha của nhiều dân tộc.” Điều nầy được thực hiện trước mặt Thượng Đế vì Áp-ra-ham tin cậy Ngài là Đấng ban sự sống cho kẻ chết và đã sáng tạo mọi vật từ chỗ hư vô.
17 Bukamaim iti na’atube eo, “Ayu o asinafi tafaram tutufin etei tamah imatar. Imih iti omatanen isan Abraham God ana tur itumitum,” anayabin God i murumurubih ebiyayawasih, naatu sawar yanonowat eo hitit tibirerereb.
18 Áp-ra-ham không hi vọng có con cái nối dòng, nhưng ông tin cậy Thượng đế và vẫn nuôi hi vọng, nên ông đã trở thành cha của nhiều dân tộc. Đúng như Thượng Đế đã bảo, “Dòng dõi ngươi sẽ đông không thể đếm được.”
18 Abraham sawar God eo’omatan men itah, baise baitumatumamaim nuhin fot ma kakaif yomaninamaim tafaram maumurih na’in tamah matar. Bukamaim isan eo na’atube matar, “O natunat boro daman na’atube.”
19 Lúc ấy Áp-ra-ham đã gần một trăm tuổi, quá tuổi bình thường để có con, còn Sa-ra thì không thể nào sinh con được. Áp-ra-ham lo âu về điều ấy nhưng niềm tin của ông nơi Thượng Đế vẫn không lay chuyển.
19 Abraham ana kwamur i ra’at, biyan i morob, naatu aawan Sarah yan wanawanan kek ana bar auman i morob, baise Abraham ana baitumatum i men ririm.
20 Ông không bao giờ hoài nghi rằng Thượng Đế sẽ không giữ lời hứa của Ngài, trái lại ông nắm chắc niềm tin. Ông vững tin hơn và ca ngợi Thượng Đế.
20 Naatu men kafa’imo God ana omatanen isan erekasiy auman ma’amih, baise ana baitumatum eabar totofar bat God ana merar yi bora’ara’ah.
21 Áp-ra-ham tin chắc rằng những gì Ngài hứa thì Ngài cũng có quyền thực hiện được.
21 Abraham ana naniyan tutufin etei bai so’ob God i fairin, abisa isan eo’omatan i karam boro nasinaf.
22 Cho nên “Thượng Đế chấp nhận đức tin của Áp-ra-ham, và đức tin ấy khiến ông hòa thuận lại với Ngài.”
22 Ana’an iti isan, Abraham ana baitumatumamaim ana yawas mumutufor isan God bai.
23 Câu “Thượng Đế chấp nhận đức tin của Áp-ra-ham” không phải chỉ viết cho ông mà thôi
23 Iti tur, “Ana ef mutufurinamaim God baib” i men Abraham akisin isan hikirum.
24 mà còn cho chúng ta nữa. Thượng Đế sẽ chấp nhận chúng ta vì chúng ta tin nơi Đấng đã khiến Giê-xu, Chúa chúng ta, sống lại từ kẻ chết.
24 Baise it auman isat hikirum, it iyabowat ata ef emumutufor naatu iyabowat tabitumatum God Jesu ata Regah morobone biyawas maiye isan.
25 Chúa Giê-xu đã chịu chết vì tội chúng ta, Ngài đã sống lại để chúng ta được hòa thuận lại với Thượng Đế.
25 Jesu it ata kakafin isan God ibasit hi’asabun, baise morobone iyawas maiye, saise it tanawiyit tanan God nanamaim tayamutufurit.

Ler em outra tradução

Comparar com outra

Estude este capítulo no WhatsApp

Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Romanos 4, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.