Romanos 3

Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI

Sair da comparação
AAI TUR GEWASIN O BAIBASIT BOUBUN
1 Thế thì người Do-thái có gì hơn những dân tộc khác? Phép cắt dương bì có gì đặc biệt?
1 Jew orot inamamatar boro Ufun Sabuw inanatabirih? Naatu a’ar kanabin hina’a’afuw ana gewasin i boro men tomar inab?
2 Dĩ nhiên là có, về nhiều mặt. Điểm quan trọng nhất là: Thượng Đế đã trao lời dạy dỗ của Ngài cho người Do-thái.
2 Ef tata’ane etei i gewasih, wantoro’ot God ana tur i Jew sabuw hitutumih hitih.
3 Nếu có một vài người Do-thái bất trung với Ngài, có phải vì vậy mà Ngài không thực hiện lời Ngài đã hứa sao?
3 Baise sabuw afa men hibitumitum isan, kwanotanot God ana omatanen isan boro men nabosunusunub?
4 Không phải! Thượng Đế vẫn chân thật dù cho mọi người giả dối. Như Thánh Kinh viết:
4 En anababatun! God ana tur i mar etei turobe, baise sabuw i baifuwenayah. Buk Atamaninamaim iti na’atube hikirum,
5 Khi chúng ta phạm tội, điều đó chứng tỏ Thượng Đế đúng. Như thế có thể nào bảo rằng Thượng Đế trừng phạt chúng ta là sai chăng? (Tôi nói như một vài người thường nói)
5 Baise it ata sinaf kakafihimaim God ana sinaf gewasin bebeyan natit sabuw hina’i’itin ana veya, it boro mi’itube tanao? God baifuwenamaim yan so’ar baimakiy ebitit? it i anababatun taikoko’aw tao kwanekwan.
6 Không! Nếu Thượng Đế không trừng phạt chúng ta thì làm thế nào Ngài xét xử thế gian?
6 Nati tur i men turobe tao’omih, anayabin sinaf nati na’atube nama’am, God boro mi’itube tafaram ana sabuw nibatiyih?
7 Có người sẽ bảo, “Khi tôi nói dối tức là tôi làm vinh hiển Ngài, vì sự dối của tôi chứng tỏ Thượng Đế là thật. Thế thì tại sao tôi bị xét xử như người có tội?”
7 Orot babin ta boro nagam nao, “Ayu i men bosunusunubayan, baise au bowabowamaim turobe God nowan tit irerereb sabuw hi’itin God hifai tebobora’ara’ah, aisim God ayu kakafu rouw eo ekukusairu?”
8 Nói như thế cũng chẳng khác nào lập luận, “Phải làm ác để mang cái thiện đến.” Có người bịa đặt, cho rằng chúng tôi dạy như thế. Họ nói bậy và thật đáng phạt.
8 Naatu iban boro kwanao maiye, kakafin tanasinaf, saise sinaf gewasin boro ine natit. Sabuw afa ayu iti na’atube o hirouw higam tiu’uwu, God nati sabuw boro baimakiy nitih.
9 Thế thì người Do-thái có gì khá hơn dân tộc khác không? Không! Chúng ta đã nói rằng người Do-thái và tất cả dân tộc khác đều phạm tội.
9 Iti sawar ana an i abisa? It Jew ata gewasin i ra’at Eteni Sabuw tanatabirih? En anababatun! Jew sabuw naatu Eteni Sabuw etei i bowabow kakafin ana fair babanamaim tama’am.
10 Như lời Thánh Kinh viết:
10 Buk Atamaninamaim iti na’atube hikirum,
11 Chẳng có ai hiểu biết.
11 Men yait ta ana not rerekabin,
12 Mọi người đều quay lưng đi.
12 Etei hitatabir kouh God hitin,
13 “Miệng chúng mở toang ra như huyệt mả;
13 Sikah dub i tahahab sabuw tetotonan,
14 “Môi miệng chúng đầy nguyền rủa
14 “Awah i orarafen awan karatan naatu tenakuyakuy.”
15 “Lúc nào cũng sẵn sàng để giết hại người khác.
15 “Iti sabuw umah i rara awan karatan.
16 Nơi nào chúng đi đều gây ra tai hại và đau khổ.
16 Menamaim tenan ma kakaf naatu gurugurusen mar etei imaim emamatar,
17 Chúng không biết sống hòa bình là gì.” Ê-sai 59:7–8
17 Naatu tufuwamaim ma ana ef i men hiso’ob.
18 “Chúng chẳng biết sợ Thượng Đế gì cả.” Thi thiên 36:1
18 Naatu God matanamaim men kafa’imo tibibiruw.”
19 Chúng ta biết rằng những gì luật pháp dạy là dành cho những người có luật pháp. Vì thế không ai có thể bào chữa được, cho nên cả thế gian đều nằm dưới sự trừng phạt của Thượng Đế,
19 Imih it ata so’obamaim ofafar hikikirum i sabuw iyab ofafar babanamaim tema’am isah, saise awah etei nabofafaren, naatu tafaram wanawanan sabuw etei nabow nan God ana baibatiyenamaim hinatit.
20 vì không ai nhờ tuân theo luật pháp mà được hòa thuận lại với Thượng Đế cả. Luật pháp chỉ cho chúng ta biết tội lỗi thôi.
20 Isan imih God boro men sabuw ofafar tebobosiyasiyar imaim hai ef mutufurin narouw nabowamih, ofafar i orot babin ana bowabow kakafin botait ebirerereb.
21 Nhưng Thượng Đế đã cho chúng ta phương cách hòa thuận lại với Ngài, mà không qua luật pháp. Phương cách ấy đã được luật pháp và các nhà tiên tri dạy chúng ta.
21 Baise boun God sabuw yamutufurih isan ana ef i boubun botawiy. Moses naatu dinab oro’orot nati isan i ofafaramaim hio’orereb tanowar, men ofafar tanabi’ufununimaim nabuwitamih.
22 Ngài khiến con người hòa thuận lại với Ngài qua đức tin vào Chúa Cứu Thế Giê-xu. Hễ ai tin Chúa Cứu Thế đều được hòa thuận với Thượng Đế, vì mọi người đều đồng một tình trạng:
22 It yamutufuren boubun Godane enan i sabuw iyab Jesu Keriso tibitumitum imaim enan, naatu God matanamaim it etei ata’itinin i men tata’amih.
23 Mọi người đều phạm tội, không đáng hưởng vinh hiển của Thượng Đế.
23 Anayabin sabuw etei bowabow kakafin hisinaf naatu God ana gewasin bain isan umah kabom.
24 Mọi người phải hòa thuận lại với Ngài qua ân phúc của Ngài, đó là một quà tặng từ Thượng Đế. Qua Chúa Cứu Thế Giê-xu, loài người được tha tội.
24 Baise manaw kabeber God ana siwar na’atube Jesu Keriso wanawananamaim na it ata kakafihine tubunit botaitit tatit.
25 Thượng Đế đã hi sinh mạng sống Chúa Giê-xu để con người được xóa tội, nhờ tin vào sự chết của Ngài. Thượng Đế làm như thế để tỏ ra sự công chính của Ngài, như xưa kia Ngài bỏ qua tội lỗi mà con người đã phạm.
25 Bowabow kakafin notawiyen isan God Keriso biyan siboromih yai, ana rara suwa re saise baitumatumamaim tanan biyan tanatit. Sawar iti na’atube sinaf saise bebeyan ti’obaiyit i ana ef i mutufurin. Anayabin I ana yatenub kakafiyin imaim bowabow kakafih marasika tasisinaf isubun rabon.
26 Ngày nay Thượng Đế đã ban Chúa Giê-xu để chứng tỏ điều Ngài làm là đúng. Như vậy, Ngài có thể xét xử công bình và hòa thuận lại với người nào đặt niềm tin mình nơi Chúa Giê-xu.
26 Naatu iti boun it ata veya’amaim i turobe ebi’obaiyit i ana ef mutufurin. Imih i karam sabuw iyab Jesu tibitumitum boro nafufunih gewas nayamutufurih.
27 Thế thì chúng ta có lý do gì để tự khoe hay không?—Không! Tại sao? Vì con đường đức tin khiến cho chẳng còn ai có thể tự khoe như khi họ nhờ con đường vâng giữ luật pháp.
27 Isan imih it boro abisa isan tanaora’ara’at? Ofafar tabobosiyasiyar isan tarara’at? En anababatun! Baise baitumatum isan i tarara’at.
28 Con người được hòa thuận lại với Thượng Đế nhờ đức tin, chứ không phải nhờ vâng giữ luật pháp.
28 Anayabin sabuw iyab tibitumatum i hai ef mutufurin rouw ebowabow men ofafaramih.
29 Có phải Thượng Đế chỉ là Thượng Đế của người Do-thái mà thôi hay Ngài cũng là Thượng Đế của những người không phải Do-thái nữa? Dĩ nhiên Ngài cũng là Thượng Đế của người không phải Do-thái nữa
29 Imih kwanotanot God i Jew sabuw akisih hai God? Ai kwanotanot Ufun Sabuw auman hai God? Baise anao kwananowar, iti God i Ufun Sabuw auman hai God.
30 vì chỉ có một Thượng Đế duy nhất thôi. Nếu Ngài đã làm cho người Do-thái hòa thuận lại với Ngài qua đức tin của họ, thì Ngài cũng sẽ khiến cho mọi người không phải Do-thái hòa thuận lại với Ngài qua đức tin của họ.
30 Kwanaso’ob God i ta’imon men rou’ab, imih sabuw iyab hai ar kanabih hi’afuw o men hi’afuw etei i baitumatum ta’imonamaim hiyawas.
31 Thế thì có phải chúng ta đã phá bỏ luật pháp qua con đường đức tin không? Không phải! Trái lại, nhờ đức tin chúng ta làm cho luật pháp thêm vững chắc.
31 Kwanotanot iti baitumatumamaim aki ofafar abobosa’ir? En anababatun, aki i ofafar aiwa’an tit ana efan bai ebirerereb.

Ler em outra tradução

Comparar com outra

Estude este capítulo no WhatsApp

Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Romanos 3, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.