Romanos 1
Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI
1 Phao-lô, tôi tớ của Chúa Cứu Thế Giê-xu, được Thượng Đế gọi làm sứ đồ và được chọn rao Tin Mừng của Ngài cho mọi người.
1 Ayu Paul, Jesu Keriso ana akir wairafin, tur abarin isan rubinu, naatu Tur Gewasin binan isan God eafu atit.
2 Từ xưa, qua các nhà tiên tri của Ngài, Thượng Đế đã hứa ban Tin Mừng theo Thánh Kinh viết.
2 Iti Tur Gewasin i marasika God ana dinab hai veya’amaim eomatanih, dinab oro’orot Buk Kakafiyinamaim hikirum.
3 — ausente —
3 Iti tur ana an gagamin i Natun it ata Regah Jesu Keriso isan. Biyanane ana tufuw i David ana rara’ane tufuw.
4 — ausente —
4 Baise i Ayubin ana kakafiyinamaim morobone mimisir ana veya, bebeyan ebi’obaiyit turobe i, i God Natun fairin.
5 Qua Chúa Cứu Thế, Thượng Đế đã giao cho tôi nhiệm vụ đặc biệt của một sứ đồ, để đưa dẫn mọi người trên thế giới trở lại tin nhận và vâng phục Chúa. Tôi làm công tác nầy vì Ngài.
5 I wanawananamaim naatu i wabin isan ayu manaw kabeber itu ana tur abarayan amatar, saise tafaram wanawanan Ufun Sabuw anabuwih hinan tur hinitumatum naatu hinabosiyasiyar.
6 Còn quí anh chị em ở La-mã cũng được kêu gọi để thuộc riêng về Ngài.
6 Naatu kwa auman i nati sabuw wanawanahimaim Jesu Keriso nowan matar isan God eafi.
7 Kính gởi: Anh chị em ở La-mã là người đã được Thượng Đế yêu thương và kêu gọi để trở thành dân thánh của Ngài.
7 Naatu Rome wanawanan kwa iyab God iyabuwi naatu rubini i ana sabuwamih kwamatar kwama’am etei, isa ayoyoyoban manaw kabeber, tufuw Tamat Godane naatu ata Regah Jesu Keriso’one mar etei kwa isa nama.
8 Trước hết tôi cảm tạ Thượng Đế tôi, qua Chúa Cứu Thế Giê-xu về tất cả anh chị em, vì khắp nơi ai nấy đều ca ngợi đức tin anh chị em.
8 Wantoro’ot Jesu Keriso wabinamaim ayu au God ana merar ayiy kwa etei isa, anayabin kwa a baitumatum i tuw ra’at tafaram wanawanan sabuw etei tenonowar.
9 Thượng Đế, Đấng mà tôi hết lòng phục vụ bằng cách rao truyền Tin Mừng về Con Ngài, biết rằng tôi luôn luôn nhắc đến anh chị em
9 God isan dogorou tutufin etei abow i Natun ana tur gewasin abibinan, i so’ob, ayu mar etei kwa anunuhi.
10 mỗi khi cầu nguyện. Tôi cầu xin được đến thăm anh chị em và nếu đẹp ý Thượng Đế, thì việc ấy sẽ thành.
10 Matanfufur isa ayoyoyoban, naatu au yoyobanamaim God abifefeyan nakokok na’at boun ana veya ef nabotawiy isou naham anan kwa aninanawani.
11 Tôi rất muốn gặp gỡ anh chị em để dùng những ân tứ thuộc linh tôi có mà giúp anh chị em lớn mạnh hơn.
11 Au kok gagamin i mi’itube kwa ayumat ata itin, saise ayubit ana usar kwa atit imaim a fair kwatab.
12 Tôi muốn mỗi người trong chúng ta nên giúp đỡ lẫn nhau, theo đức tin mình có. Đức tin anh chị em sẽ khích lệ tôi, ngược lại, đức tin tôi sẽ khích lệ anh chị em.
12 Iti tur i men ayu akisu kwa fair bait isan ao’omih, baise kwa auman ayu koufair kwanitu bairi tanibaibaisbonen ata baitumatum nakwat isan ao’o.
13 Thưa anh chị em, tôi muốn anh chị em biết rằng, nhiều lần tôi dự định đến thăm các anh chị em nhưng chưa được. Tôi muốn thăm để giúp các anh chị em lớn lên về mặt tâm linh như tôi đã giúp các người ngoại quốc khác.
13 Taitu tuwa’inah ayu akokok tain anayai kwanaso’ob, mar moumurih na’in abogaigiwas atan kwa ata’iti, saise kwa wanawanamaim Ufun Sabuw afa atabow hitan baitumatum wanawanan hitarun, nati’imaim abow hina baitumatum wanawanan hirur na’atube. Baise sawar moumurih maiyow ayu au ef hirufutifut tama tanan iti boun tatit.
14 Tôi mang nặng một nghĩa vụ đối với mọi người—từ người Hi-lạp hay không phải Hi-lạp, người khôn ngoan cũng như người ngu dốt.
14 Ayu i sabuw etei’imak isah bai’akiramih atit, Greek sabuw naatu sabuw iyab men Greek, na’atube sabuw so’ob wairafih naatu men so’ob wairafih etei’imak isah anabow anibaisih.
15 Vì thế mà tôi rất muốn rao truyền Tin Mừng cho quí anh chị em là người La-mã.
15 Ana’an nati isan ayu akokok kwanekwan tur gewasin kwa iyab nati Rome kwama’ama auman isa anabinan.
16 Tôi rất hãnh diện về Tin Mừng nầy, vì là quyền năng của Thượng Đế để cứu những ai tin—trước hết là người Do-thái rồi đến những người không phải Do-thái.
16 Ayu Tur Gewasin ao’orereb isan men biyou eo’ohow, anayabin God ana fair i ef iti’imaim tit sabuw iyab tibitumatum ebiyawasih. Iti yawas i wantoro’ot Jew sabuw isah, baise Ufun Sabuw auman.
17 Tin Mừng ấy cho thấy Thượng Đế giúp cho con người hòa thuận lại với Ngài—bắt đầu và kết thúc đều qua đức tin. Như Thánh Kinh viết, “Những ai đã hòa thuận lại với Ngài sẽ sống mãi bằng đức tin.”
17 Anayabin yawas mutufurin Godane i tur gewasinamaim orot babin eyayamutufurih, baitumatumamaim ebubusuruf naatu boro baitumatumamaim nasawar. Buk Atamaninamaim hikikirum iti na’atube eo,
18 Cơn giận của Thượng Đế từ trời đã tỏ ra để chống lại mọi điều ác và trái phép mà con người làm. Qua nếp sống độc ác của họ, con người đã che giấu sự thật.
18 Sabuw bowabow kakafih sinafuyah naatu sabuw tafa’asarih, i hai kakafinamaim turobe ana gewasin esumisum, imih maramaim God ana ya so’ar tit ibirerereb nati sabuw isah.
19 Thượng Đế nổi giận, vì những gì họ cần biết về Thượng Đế thì đã trình bày rõ ràng cho họ. Chính Thượng Đế đã phơi bày những điều ấy ra cho họ.
19 Sawar tutufin etei i rereb yah hi’itah tesoso’ob, anayabin God etei bebeyanamaim sinaf tibirerereb.
20 Có nhiều điều về Thượng Đế mà con người không thể thấy—chẳng hạn như quyền năng vô hạn và thiên tính của Ngài. Nhưng từ thuở tạo thiên lập địa, hai đặc tính nầy đều sờ sờ ra đó và ai cũng hiểu được. Cho nên họ không có lý do gì để bào chữa về những việc làm xấu xa của mình.
20 Anamaim God tafaram sinaf mamatar ana veya, God ana yawas wa’iwa’irin, ana fair wanatowanin naatu i ana itinin etei i sawar sinaf himamataramaim bebeyah hi’itan hiso’ob, imih boro men yait ta God su’ubina’e nao nifufuwenamih.
21 Họ đã biết Thượng Đế, nhưng không chịu tôn kính hoặc tạ ơn Ngài. Tư tưởng họ thật vô dụng. Trí óc họ đầy ngu tối.
21 Nati sabuw i God hisu’ub, baise men kafa’imo God hirouw tebora’ara’ah, o merarayow tibitinimih. Nati efanin i hai not bonawiyih kwarikwarisen wanawanan hirun dogoroh eowarar naatu gugumafut.
22 Họ bảo rằng mình khôn ngoan nhưng lại hóa ra ngu dại.
22 Basit i not wairafih hirouw teo, baise hai not botabir hina koko’aw na’atube himatar,
23 Họ đánh đổi vinh hiển của Thượng Đế, là Đấng sống đời đời, để thờ lạy những thần tượng tạc giống hình người, chim chóc, súc vật hoặc rắn rết.
23 God morob atin bonamanamarin kwafirina’e i hitatabir orot hai yumatabe o mamu, o harufor, uma’ar, kok, i hai yumatabe hitar hima tekwakwafirih.
24 Vì họ hành động như thế nên Thượng Đế bỏ mặc họ đi theo con đường tội lỗi, lúc nào họ cũng muốn làm ác. Do đó, họ đầy dẫy tội nhục dục, sử dụng thân thể với nhau một cách bậy bạ.
24 Isan imih God nati sabuw ihamiyih hitit bowabow kakafih ta ta wanawanan hirun. Dogoroh ana kok na’atube tisisinaf, orot baibin hai faifuw hikwahir naatu baibin ibo orot hai ar hikwahir taiyuwih hi’in hisesebar biyah tebobokarikarit.
25 Họ đã đánh đổi sự thật của Thượng Đế để lấy sự dối trá. Họ thờ phụng những vật được tạo dựng, thay vì thờ Đấng Tạo Hóa là Đấng đáng được ca ngợi đời đời. A-men.
25 Turobe God nowan i hibotabir efanin baifuwen hiyari’iy, naatu God Sawar Sinafuyan kwafirina’e, hitatabir sawar i sinaf himamatar hai fair babahimaim hirun hikwafirih isah tebowabow. Baise ana gewasin sabuw i God akisinamo hitakwafir hitabora’ara’ah wanatowan, wanatowan, Amen.
26 Vì thế cho nên Thượng Đế đã bỏ mặc họ làm những việc nhơ nhuốc theo ý họ. Đàn bà không còn thực hành tình dục tự nhiên nữa, mà trái lại, hành dục với nhau.
26 Ana an iti isan God ihamiyih insesebar naniyan kakafin anababatun hibai tisisinaf. Baibin oro’orot hai ar hikwahir, i taiyuwih hi’in tibisesebar kwanekwan.
27 Đàn ông cũng vậy, không còn thực hành tình dục tự nhiên nữa, mà lại hành dục với nhau. Đàn ông làm những việc nhơ nhuốc với nhau, vì lý do đó thân thể họ phải mang lấy hình phạt về tội phạm của mình.
27 Ef nati ta’imon oro’orot auman baibin hai faifuw hikwahir i taiyuwih baisesebar isan tibifi’afi. Naatu oro’orot taiyuwih hi’in tibisesebar kwanekwan. Ana an nati isan i taiyuwih hai kakafinamaim baimakiy tebaib.
28 Người ta không cho việc hiểu biết thực sự về Thượng Đế là quan trọng. Nên Thượng Đế bỏ mặc họ suy nghĩ theo ý tưởng ngông cuồng, làm những việc bậy bạ.
28 Anayabin sabuw God ana so’ob anababatun bain isan hai not kowarar naatu hirutawiy, imih God ihamiyih hitit not kwarikwarisen hibai hima kakafih men hitasisinaf i hima tisisinaf.
29 Lòng họ đầy dẫy tội lỗi, độc ác, ích kỷ, ganh ghét, đố kỵ, giết người, tranh giành, dối trá, làm hại nhau. Họ nói hành,
29 Dogoroh wanawanan bowabow kakafih ta ta etei awan karatan: not kakafih, kabat, tafa’asar, bobowen, sabuw rouw morob; baiyow, baifufuwen, nuw okwanekwan, yanuw,
30 bêu xấu lẫn nhau và thù ghét Thượng Đế. Họ cộc cằn, kiêu căng và khoác lác. Lúc nào họ cũng nghĩ đến chuyện làm quấy, không vâng lời cha mẹ.
30 koutabitabir, God baifa’ifa’in, kakaf en, nuw furuwen, ora’ara’at, naatu bowabow kakafih sinaf isan hai ef boubuh tibimamataren. Naatu hinah tamah fanah tibifanasair.
31 Họ ngu dại, không giữ lời hứa, thiếu nhân từ và khoan dung với người khác.
31 Nati sabuw i hai naniyan en, aurih bosunusunub en, yabow, baiwan babanen en.
32 Họ biết luật Thượng Đế dạy rằng những ai có đời sống như vậy thật đáng chết, nhưng không những họ vẫn tiếp tục làm ác, mà lại còn xúi giục kẻ khác làm nữa.
32 Naatu God ana ofafaramaim sabuw iti na’atube hinasisinaf isan hinamomorob i hiso’ob, baise i hima kakafin tisisinaf. Naatu sabuw afa bowabow iti na’atube tisisinaf auman isah i baibasit hitih hima tisisinaf.
Atalhos do teclado
- Capítulo anterior←
- Próximo capítulo→
- Versículo anteriork
- Próximo versículoj
- Limpar seleçãoEsc
- Esta ajuda?
Estude este capítulo no WhatsApp
Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Romanos 1, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.