Romanos 16

Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI

Sair da comparação
AAI TUR GEWASIN O BAIBASIT BOUBUN
1 Tôi giới thiệu với anh chị em, chị Phê-bê, một trợ tá trong hội thánh tại Xen-cơ-ria.
1 Ayu akokok rubut Fibi Sensera ekaleisia isah bow ebibaisih isan anao kwananowar.
2 Tôi xin anh chị em đón tiếp chị trong Chúa theo tập tục của các tín hữu. Chị cần gì, xin anh chị em giúp đỡ vì chị đã giúp tôi và nhiều người khác.
2 God ana sabuw merarayow gewasin taituwa kwabitih na’atube, Regah wabinamaim rubut ana merar kwanay kwanab. Naatu biyamaim baibais nakokok na’at kwanitin, anayabin i sabuw moumurih na’in ebibaisih, ayu auman.
3 Chuyển lời tôi chào thăm Bích-xi-la và A-qui-la, những người đã cộng tác với tôi trong Chúa Cứu Thế Giê-xu.
3 Au merarayow abiyafar Priscilla naatu Aquila hairi isah, ayu bow turou’unah Keriso Jesu isan bairi abowabow.
4 Họ cũng đã liều mình cứu mạng tôi. Tôi hết sức mang ơn họ; tất cả các hội thánh ngoài nước Do-thái cũng vậy.
4 Naatu morob hirib hai yawas hikwahir ayu tibibaisu. Men ayu akisu, baise Ufunane Ekaleisia etei auman i hai bowabow isan tibiyasisir.
5 Ngoài ra, chuyển lời tôi chào thăm hội thánh họp tại nhà hai anh chị em ấy.
5 Ekaleisia iyabowat nati hai baremaim bairi tibita’ay hai merar ayiy, naatu au of Epanetus auman ana merar ayiy. Anayabin Asia wanawanan i mat dogor baikitabir bai Keriso itumitum.
6 Tôi gởi lời chào Ma-ri, người đã khó nhọc vì anh chị em.
6 Mary auman ana merar ayiy, kwa isa bowabow gagamin maiyow ebowabow.
7 Tôi gởi lời chào Anh-rô-ni và Giu-nia, hai người bà con tôi, cũng đã ngồi tù chung với tôi. Họ tin nhận Chúa Cứu Thế trước tôi. Hai người ấy là các nhà truyền giáo rất quan trọng mà Chúa Cứu Thế sai để làm công việc Ngài.
7 Merarayow ta enan au ofonah Jew orot rou’ab isah, Andronicus naatu Junia hairi bairi dibur ama’am isah. Iti orot rou’ab i tur abarayah etei wanawanahimaim hairi i hisu’ubih kwanekwan naatu i mat Kirisiyan himatarabo ayu.
8 Tôi gởi lời chào Am-lia-túc, bạn thân tôi trong Chúa.
8 Au merarayow enan au begon Ampliatus, Regah wabinamaim abiyabow.
9 Tôi gởi lời chào U-ba-núc, đồng nghiệp với tôi trong Chúa Cứu Thế. Tôi chào thăm bạn Ích-ta-chi thân mến.
9 Merarayow ta enan Regah ana bowabowayan orot wabin Urbanus isan, bow turat naatu au of Stachy isan.
10 Tôi gởi lời chào A-ben-lê là người đã chịu thử nghiệm và đã chứng tỏ thực lòng yêu mến Chúa Cứu Thế. Chuyển lời tôi chào thăm mọi người trong gia đình A-ri-tô-bu-lu.
10 Merarayow ta enan Apeles isan, iti orot i fokarih wanawanah run washamiyen hire Keriso isan ebiturobe. Merarayow ta enan iyabowat Aristobulus ana nibur wanawananamaim bairi tema’am isah.
11 Tôi chào thăm Hê-rô-đi-ôn, bạn đồng hương với tôi. Tôi gởi lời chào thăm mọi người trong gia đình Nạc-xi-xúc thuộc về Chúa.
11 Merarayow ta enan Herodion, Jew orot naatu enan Narsisas taintuwan bairi isah.
12 Tôi chào thăm Tri-phê-na và Tri-phô-sa, hai chị em đã hết lòng lo việc Chúa. Tôi cũng chào thăm bạn Bẹt-xi, người có công trong việc Chúa.
12 Au merarayow ta enan Traifena naatu Tryphosa hairi Regah ana bowabowamaim tebowabow isah.
13 Tôi cũng gởi lời chào Ru-phu, một đầy tớ đặc biệt được chọn lựa trong Chúa, đồng thời tôi cũng kính chào mẹ anh, người mà tôi xem như mẹ tôi.
13 Au merarayow ta abiyafar Rufus isan, Regah nowanamih rubin bai, hinah hairi, Rufus hinah, baise ayu auman hinai.
14 Tôi cũng xin chào A-xinh-ri-tu, Phơ-lê-gôn, Hẹt-mê, Ba-trô-ba và các anh em có mặt.
14 Au merarayow ta enan Asyncritus, Phlegon, Hermes, Patrobas, Hermas naatu Kirisiyan afa etei bairi isah.
15 Tôi cũng chào thăm Phi-lô-lô-gúc và Giu-lia, Nơ-rêu và chị của anh ấy, Ô-lim-ba và các con cái Chúa đang có mặt với họ.
15 Au merarayow ta enan Philologus, Julia, rubun Nereus hairi naatu Olympas, naatu God ana sabuw biyanamaim tema’am etei hai merar ayiy.
16 Các anh chị em hãy chào nhau bằng cái hôn thánh. Tất cả các hội thánh của Chúa Cứu Thế chào thăm anh chị em.
16 Wanawanamaim ta’ita’imon tufuw ana karamamayenamaim kwanimerarayowbonen kwanama,
17 Thưa anh chị em, tôi xin anh chị em hãy thận trọng về những người gây rối và phá đổ đức tin người khác. Họ chống báng những điều dạy dỗ chân thật mà anh chị em đã nhận, cho nên hãy xa lánh họ.
17 Taitu abifefeyani, mata toniwa’an sabuw kousebayah naatu sabuw baitumatum gurusenayah naatu bai’obaiyen kwabaib isan tibibas isah. Nati sabuw i kwanahaiwih.
18 Không phải họ phục vụ Chúa Cứu Thế đâu mà chỉ phục vụ bản thân mình thôi. Họ thích nói văn hoa bóng bẩy để phỉnh dỗ đầu óc của những người không phân biệt được thiện ác.
18 Anayabin sabuw iyab iti na’atube tisisinaf i men ata Regah Keriso isan tebowabowamih, baise i taiyuwih hai gewasin isan tebowabow. Hai tur mumunin naatu baifuwen turamaim sabuw bar ma’anih hai not tibikwakwaris.
19 Tất cả mọi tín hữu đều nghe rằng anh chị em rất vâng phục cho nên tôi rất vui mừng về anh chị em. Tôi muốn anh chị em khôn ngoan trong việc thiện nhưng ngây thơ trong việc ác.
19 Kwa a baiten nowanowar isan sabuw etei hinowar, imih kwa etei isa ayu abiyasisir; baise akokok kwa etei gewasin isan ukwar hinarerekab, naatu kakafin kwanahaiw men ana ubar kwanab.
20 Thượng Đế là Đấng ban hòa bình sẽ sớm đánh bại Sa-tăng và cho anh chị em quyền thống trị nó.
20 Tufuw ana God boro’omo Satan an babanamaim nayai sikan nawasafut.
21 Ti-mô-thê, bạn đồng công với tôi gởi lời chào thăm anh chị em cùng với Lu-xơ, Gia-sôn và Sô-si-ba-tơ, bà con tôi.
21 Timothy bow turou ana merarayow kwa isa ebiyafar, na’atube ayu taitu Lucius, Jason naatu Sosipater auman a merar tiyiy.
22 Tôi là Tẹt-tu, người viết thư nầy giùm Phao-lô kính lời chào thăm anh chị em trong Chúa.
22 Ayu Tertius fef iti kirumayan kwa etei Regah wabinamaim a merar ayiy.
23 Gai-út là người đã cho phép tôi và toàn thể hội thánh ở đây họp tại nhà anh ấy cũng kính thăm anh chị em. Ê-rát-tu, thủ quỹ thành phố và anh em chúng tôi là Quát-tu cũng vậy.
23 Gaius ana baremaim ayu ama’am, i kwa a merar eyiy, naatu ekaleisia iti ana baremaim tiruru’ay auman kwa a merar tiyiy.
24 — ausente —
24 “Manaw kabeber ata Regah Jesu Keriso’one kwa etei isa nama. Amen.
25 Nguyền vinh hiển thuộc về Thượng Đế, là Đấng có thể khiến anh chị em vững mạnh qua Tin Mừng và lời của Chúa Cứu Thế Giê-xu mà tôi truyền cho mọi người. Lời ấy về Chúa Cứu Thế là điều huyền bí đã được giấu kín từ các đời nhưng nay được tiết lộ
25 God ana merar tanay, anayabin i karam boro Jesu Keriso ana tur gewasin kwanonowaramaim nasinafi a baitumatum tafanamaim kwanabatkikin. Marasika anamaim iti tur wa’iwa’iramaim hibun wa’ir in.
26 và tỏ bày qua lời các nhà tiên tri ghi lại. Do mệnh lệnh của Thượng Đế là Đấng sống đời đời, điều huyền bí ấy đã được biểu lộ ra để muôn dân tin nhận và vâng phục Ngài.
26 Baise boun dinab orot hikirum naatu God wanatowanin ana obaiyunen tur etei i hina tibirerereb. Saise sabuw hinitumatum naatu Regah fanan hinabosiyasiyar.
27 Nguyền vinh hiển muôn đời thuộc về Thượng Đế, Đấng duy nhất biết hết mọi điều qua Chúa Cứu Thế Giê-xu. A-men.
27 God akisinamo isan i ukwarerekab ema’am, i akisinamo bora’ara’aten tanitin wanatowan Jesu Keriso wabinamaim! Amen.

Ler em outra tradução

Comparar com outra

Estude este capítulo no WhatsApp

Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Romanos 16, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.