Mateus 9
Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI
1 Chúa Giê-xu bước xuống thuyền, qua bờ bên kia trở về thành của Ngài.
1 Jesu wa afe’en yen naatu matabir maiye rabon na ana bar ana meraramaim tit.
2 Có mấy người mang đến cho Ngài một người bại nằm trên cáng. Khi Chúa Giê-xu thấy đức tin của họ, Ngài bảo người bại, “Anh ơi, hãy vững lòng! Tội anh được tha rồi.”
2 Nati’imaim sabuw afa orot ta an uman murubin emo’emomaim hiwan hi’abar hina Jesu biyan hitit, naatu Jesu sabuw hai baitumatum itin, basit orot an uman murubin isan eo, “Natu men iniyababan, o a bowabow kakafih i anotanotawiyen.”
3 Vài giáo sư luật ở đó nghĩ thầm, “Ông nầy ăn nói như thể mình là Trời vậy. Thật là phạm thượng!”
3 Naatu Ofafar Bai’obaiyenayah afa taiyuwih hibabatiyih hio, “Iti orot i tur kakafin maiyow eo God ebi’ib.”
4 Biết ý nghĩ họ, Ngài bảo, “Sao các ông có ác tưởng đó?
4 Jesu abisa hinotanot itin naatu eo, “Kwa aisim dogor wanawanan not kakafih kwanotanot?
5 Hai điều nầy, điều nào dễ hơn, ‘Tội ngươi được tha rồi,’ hay là bảo anh ta, ‘Hãy đứng dậy, bước đi’?
5 Ef menatan i hamehamen, orot ana kakafih notawiyen isan anao i hamehamen ai anau namisir nabat nareremor i hamehamen?
6 Nhưng tôi sẽ chứng tỏ cho các ông thấy tôi có quyền tha tội trên đất.” Chúa Giê-xu liền bảo người bại, “Anh hãy đứng dậy, cuốn chăn chiếu về nhà đi.”
6 Baise kwakakasiy, imih ani’obaiyi kwana’itin, orot Natun i tafaramamaim fair bai bowabow kakafih notawiyen isan.” Naatu orot an uman murubin isan eo, “Kumisir a ir kunuw kubai a ubar kwen.”
7 Người bại liền đứng phắt dậy đi về nhà.
7 Orot misir ana ir nuw bai ana ubar in.
8 Dân chúng chứng kiến sự việc, vô cùng sửng sốt và ca ngợi Thượng Đế đã ban quyền phép ấy cho con người.
8 Sabuw iti na’atube matar hi’i’itin ana mar hai hibir ra’at naatu God wabin hibora’ara’ah fair iti na’atube orot bitih isan.
9 Vừa rời nơi ấy, Chúa Giê-xu thấy một người tên Ma-thi-ơ đang ngồi nơi trạm thu thuế. Ngài bảo ông, “Hãy theo ta.” Ma-thi-ơ liền đứng dậy đi theo Ngài.
9 Jesu efan nati ihamiy remor inan auman, kabay o’onayan wabin Matthew ana bowabow efanamaim ma’am itin naatu iu, “Kumisir kwi’ufnunu.” Matthew ma’am misir Jesu iufunun hairi hin.
10 Trong khi Chúa Giê-xu đang dùng bữa tại nhà Ma-thi-ơ, có nhiều nhân viên thu thuế và những kẻ xấu xa đến ăn chung với Ngài và các môn đệ.
10 Jesu Matthew ana baremaim ma bay hi’au, ana maramaim kabay o’onayah naatu bowabow kakafih sinafuyah moumurih maiyow hina Jesu ana bai’ufununayah bairi hikofanih bay aa ana efanamaim himare.
11 Người Pha-ri-xi thấy vậy mới hỏi các môn đệ Ngài, “Tại sao thầy của mấy anh ăn chung với bọn thu thuế và kẻ bất lương như thế?”
11 Naatu Ofafar Bai’obaiyenayah hi’itih ana maramaim, Jesu ana bai’ufununayah hibatiyih, “Aisim kwa a bai’obaiyenayan kabay o’onayah naatu sabuw kakafih bairi hima bay te’aa?”
12 Nghe vậy, Ngài bảo họ, “Người khỏe mạnh đâu cần bác sĩ, mà là người bệnh.
12 Jesu hio nowar naatu iyafutih eo, “Sabuw aurih sawow en adanafur orot boro men hinakok, baise sabuw iyab sawusawuwih boro adanafur orot hinakok.
13 Hãy đi học ý nghĩa câu nầy: ‘Ta muốn lòng nhân từ hơn sinh tế.’ Ta đến không phải để kêu gọi người tốt mà để kêu gọi tội nhân.”
13 Kwa Buk Atamaninamaim kwabiyab tur yabin kwa’itin? ‘Ayu i akokok kabeber, men sibor.’”
14 Lúc ấy có mấy môn đệ của Giăng đến hỏi Chúa Giê-xu “Tại sao chúng tôi và người Pha-ri-xi thường cữ ăn còn các môn đệ thầy thì không?”
14 Naatu John Baptist ana bai’ufununayah hina Jesu hibatiy hio, “Aisim aki naatu ofafar bai’ufununayah bairi mar etei ayoyohar naatu o a bai’ufununayah i en?”
15 Chúa Giê-xu đáp, “Bạn của chú rể không thể buồn rầu trong khi chú rể còn ở với họ. Nhưng khi nào chú rể được rước đi khỏi họ thì lúc ấy họ mới cữ ăn.
15 Jesu iyafutih eo, “Men karam sabuw orot boubun tatatabin ana yasisir isan hitaruru’ay, hitama orot yawasin hitabotouw, baise mar boro nanan orot boro hinabosair naatu nati ana veya’amaim imaibo hinifoufur hinirowarow.
16 Không ai dùng một miếng vải chưa bị co để vá một lỗ rách của cái áo cũ. Làm như thế miếng vá sẽ rút lại, xé lỗ rách thêm.
16 Na’atube faifuw atamanin boro men karam hinab faifuw boubun hinafitimih, anayabin faifuw boubun hinasasauw ana veya boro nakaro’om natakweb mahar nara’at.
17 Cũng không ai đổ rượu mới vào bầu da cũ. Vì bầu sẽ nứt, rượu đổ ra hết, bầu cũng không còn. Người ta đổ rượu mới vào bình mới để giữ được cả hai.”
17 Na’atube men yait ta wine boubun ebai wine ana kibub atamaninamaim eriririmih, anayabin wine boubun boro nara’at naatu kibub natafofor wine nasuwa na re, imih wine boubun i boro wine ana kibub boubunamaim hinarir, saise hairi boro gewasih hinabat.”
18 Trong khi Chúa Giê-xu đang nói thì có một người chủ hội đường đến gặp Ngài. Ông ta quì xuống trước mặt Ngài van xin, “Con gái tôi mới chết. Xin Ngài đến đặt tay trên nó để nó sống lại.”
18 Iti na’atube eo auman Tafaror Bar kaifenayan orot ta na Jesu biyan tit nanamaim sun yowen eo, “Ayu natu babitai i veya boun morob, baise akokok inan umawat inabutubun nayawas.”
19 Chúa Giê-xu và các môn đệ đứng dậy cùng đi với ông chủ hội đường.
19 Basit Jesu misir ana bai’ufununayah bairi orot hi’ufunun hin.
20 Bấy giờ có một thiếu phụ mắc bệnh xuất huyết đã mười hai năm đến phía sau Chúa Giê-xu và rờ ve áo của Ngài.
20 Naatu babin ta ana faifuwamaim rara bota’ar ma’am kwamur etei 12 sasawar, na Jesu ufunane tit,
21 Chị nghĩ thầm, “Nếu tôi chỉ cần rờ áo Ngài, chắc chắn tôi sẽ được lành.”
21 ana notamaim eo, “Jesu ana faifuw tainin ana butubun boro ana yawas.” Naatu ana faifuw tainin butubun.
22 Chúa Giê-xu quay lại thấy thiếu phụ liền bảo, “Chị ơi, hãy vững lòng. Chị được lành vì chị có lòng tin.” Ngay lúc đó thiếu phụ lành bệnh.
22 Jesu tatabir babin itin eo, “Natu men iniyababan, abai tumatumamaim kubigewasin.” Iti na’at eo ana veya’amaim, mar ta’imonamo babin igewasin.
23 Chúa Giê-xu tiếp tục đi với người chủ hội đường, vào nhà ông ta. Đến nơi, Ngài thấy đoàn thợ kèn và nhiều người đang khóc lóc thảm thiết.
23 Imaibo Jesu na Kou’ay Bar kaifenayan orot ana bar wanawanan run. Sabuw hiru’ay hima hirerey itih, naatu rerey ana fik hibababin nowar.
24 Ngài bảo, “Tránh ra chỗ khác. Em bé gái nầy không phải chết đâu, nó chỉ ngủ thôi.” Nhưng họ nhạo cười Ngài.
24 Jesu eo, “Iti kek babitai i matan fot inu’in, men morobomih, kwamisir ufun kwatit.” Baise sabuw isan himarib, anayabin i hiso’ob kek i morob.
25 Sau khi đuổi mọi người ra khỏi nhà thì Chúa Giê-xu đi vào phòng em bé gái, cầm tay em thì em liền ngồi dậy.
25 Basit sabuw etei himisir ufun hitit sawar, imaibo Jesu run in kek inu’in ana efanamaim tit, naatu babitai uman bai imisiruw yawas misir.
26 Tin nầy được đồn ra khắp vùng ấy.
26 Iti sisinaf ana tur ra’at tasasar in nati tafaram hima’am ana fofonin etei hinowar.
27 Ngài đang rời nơi ấy thì có hai người mù theo sau. Họ kêu xin, “Con cháu Đa-vít ơi, xin thương xót chúng tôi!”
27 Jesu efan nati itumar tit remor inan, orot rou’ab matah fim hitit hi’ufunun hin hi’af hio, “David uwan, kwiwanbabani.”
28 Sau khi Ngài vào nhà thì hai người mù cùng vào. Ngài hỏi họ, “Mấy anh tin rằng tôi có thể làm cho mấy anh sáng mắt phải không?” Họ đáp, “Thưa Chúa, dạ phải.”
28 Jesu na bar wanawanan run naatu orot rou’ab hina biyan hitit, Jesu ibatiyih eo, “Kwabitumatum ayu boro aniyawasi?” Hairi hiya’afut hio, “Regah abitumitum.”
29 Ngài liền rờ mắt họ và nói, “Vì hai anh tin ta có thể khiến các anh sáng mắt, nên điều đó sẽ thành sự thật.”
29 Basit Jesu hairi matah botobonen eo, “Kwabitumatum na’atube isa namatar.”
30 Hai người mù liền được sáng mắt. Chúa Giê-xu nghiêm cấm họ, “Không được nói cho ai biết chuyện nầy.”
30 Hairi matah higewasin hinuw naatu Jesu eofafarih eo, “Men yait ta ana tur kwana’owen.”
31 Nhưng hai người mù đi ra đồn tin về Chúa Giê-xu khắp cả miền ấy.
31 Baise hairi hitit hin Jesu ana tur hibosemor ra’at, nati tafaram hima’am ana fofonin etei hinowar.
32 Khi hai người vừa ra đi thì người ta mang đến cho Ngài một người khác. Người nầy câm vì bị quỉ ám.
32 Orot rou’ab hinan ufut sabuw afa orot ta yoyom hirab awan igug ma’am hibai hina Jesu biyan hitit.
33 Sau khi Chúa Giê-xu đuổi quỉ ra thì anh nói được. Quần chúng rất kinh ngạc bảo nhau rằng, “Chúng ta chưa hề thấy phép lạ như thế nầy trong Ít-ra-en.”
33 Naatu Jesu yoyom mowan nun tit orot busuruf tur eo sabuw etei hifofor hio, “Sawar iti na’atube Israel wanawananamaim men ta i’itin bounabo ta’i’itin.”
34 Nhưng người Pha-ri-xi bảo, “Chúa quỉ ban quyền cho ông ta để đuổi quỉ đó thôi.”
34 Baise Ofafar Bai’obaiyenayah hio, “Iti i Demon Hai Ukwarin fair itin imih demon nunih titit.”
35 Chúa Giê-xu đi qua các thị trấn, làng mạc, dạy dỗ trong các hội đường, rao giảng Tin Mừng về Nước Trời và chữa lành mọi thứ tật bệnh.
35 Jesu bar awan awan run tit sabuw inanawanih bar merar hai Kou’ay Baremaim sabuw i’obaibiyih, mar ana aiwob isan Tur Gewasin eo hinowar naatu sabuw hai sawow yumatah ta ta hibow hinan etei iyayawasih.
36 Khi thấy quần chúng, Ngài cảm thương họ vì họ hoang mang, bối rối, yếu đuối như chiên thiếu người chăn.
36 Jesu iti rou’ay gagamin maiyow hinan itih yan baban, anayabin hai not kwaris naatu aurih baibais en, ana itinin i sheep na’atube aurih nabatanenayan orot en.
37 Chúa Giê-xu bảo các môn đệ, “Đồng lúa rất được mùa mà thợ gặt thì thiếu.
37 Basit ana bai’ufununayah isah eo, “Masaw i gagamin na’in baise ana fourayah i men moumurih.
38 Hãy cầu xin Chúa là chủ mùa gặt sai thêm người đến tiếp tay gặt hái.”
38 Imih masaw matuwan isan kwanayoyoban saise bowayah afa niyafarih hinan bay hinafour, anayabin bay i hiyamur.”
Atalhos do teclado
- Capítulo anterior←
- Próximo capítulo→
- Versículo anteriork
- Próximo versículoj
- Limpar seleçãoEsc
- Esta ajuda?
Estude este capítulo no WhatsApp
Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Mateus 9, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.