Mateus 7
Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI
1 “Đừng phê phán người khác để mình khỏi bị phê phán.
1 “Taituwa hai kakafin men ina’itin inibibatiyih, God boro nibatiyi.
2 Mình phê phán người khác ra sao thì họ cũng phê phán mình như thế; mình đối với kẻ khác như thế nào thì họ cũng sẽ đối với mình giống như vậy.
2 Anayabin God boro ef ta’imon taituwa ibibatiyih na’atube, o boro nibatiy, naatu fufun ta’imon taituwa ifufufunihimaim, o boro nafufuni.
3 Sao các con thấy hạt bụi nhỏ xíu trong mắt bạn mình mà không thấy khúc gỗ lớn trong mắt mình?
3 “Aisim taituwa matah mutusukwar i’itin kikin ku’o naatu o mata ahay gagamin yi ebatabat men kui’itin.
4 Sao các con dám nói với bạn mình rằng, ‘Bạn ơi, để tôi lấy hạt bụi ra khỏi mắt bạn’? Hãy nhìn lại mình! Mắt mình vẫn còn khúc gỗ lớn.
4 O taituwa isan boro mi’itube awa fariniwa’an inao, ‘Aro nekuna mata mutusukwar abosair.’ Naatu baise o mar etei i matan ahay yi ebatabat.
5 Nầy, kẻ giả đạo đức! Hãy lấy khúc gỗ ra khỏi mắt mình trước, rồi mới thấy rõ mà lấy hạt bụi ra khỏi mắt bạn mình được.
5 Wanawan rerekabih, mat o taiyuw mata a’ahay ina’uy, saise boro inanuw gewas taituwa matan ana ahay ina’uy.
6 Đừng cho chó những đồ thánh và chớ nên ném ngọc trai trước mặt heo. Heo sẽ đạp lên còn chó sẽ quay lại cắn xé các con.
6 “Abisa kakafiyin men haru aninamih kwanitih, boro hinatatabir hinayubi. Naatu a nugunug men for nahimaim kwanarub nare, boro tafan hinayen hinawasu’uru’um.
7 Hãy xin, Thượng Đế sẽ cho các con. Hãy tìm, các con sẽ gặp. Hãy gõ, cửa sẽ mở ra cho các con.
7 “Inafefeyan boro inab, inanuwet boro inatita’ur, naatu inarukikitar etawan boro isa nabotawiy.
8 Đúng vậy, ai xin thì được. Ai tìm thì gặp, ai gõ thì cửa mở cho.
8 Anayabin orot yait efefeyan boro nab, orot yait enunuwet boro natita’ur naatu orot yait erurukikitar etawan boro isan nabotawiy.
9 Nếu con cái các con xin bánh, có ai trong các con lấy đá cho chúng nó không?
9 “O yait natu, wahimih fefeyan kabay ibai itin ean?
10 Hay nếu con cái xin cá mà lại cho rắn không?
10 Na’atube siyamih rererey kok ibai itin ean?
11 Tuy các con vốn xấu mà còn biết cho con cái mình những thứ tốt, thì huống gì Cha các con trên trời lại không ban những điều tốt cho những người xin Ngài sao?
11 En baise Kwa i bowabow kakafih sinafuyah, baise kwaso’ob natunat boro siwar gewasih kwanitih, imih Tamat maramaim i ma tainin erubirub orot yait efefeyan boro siwar gewasin nitin.
12 Các con muốn người ta làm điều gì cho mình, thì hãy làm điều ấy cho họ. Đó là ý nghĩa của luật pháp Mô-se và lời dạy của các nhà tiên tri.
12 Imih sawar etei taituwa isah inabow, o kukok isa tebowabow na’atube, anayabin Moses ana ofafar naatu dinab oro’orot hai bai’obaiyen an anababatun i iti’imaim ku’ay inu’in.
13 Hãy cố gắng vào cổng hẹp. Vì cổng và đường dẫn đến hỏa ngục thì rộng thênh thang, người đi vào đường ấy rất đông.
13 “Etawan awan kukurinamaim kwanarun kwan, anayabin etawan awan gagamin, naatu ef awan hahabin inarun inanan yomaninamaim i gurugurusen ema’am naatu sabuw moumurih na’in imaim tenan.
14 Nhưng cổng chật và đường hẹp, khó đi, dẫn đến sự sống thật, thì chỉ có một số ít người tìm được thôi.
14 Baise etawan awan kukurin naatu ef awan tuwafutin inarun inanan yomaninamaim i yawas ema’am, naatu sabuw matan ta’amo imaim tenan.
15 Hãy thận trọng về những người tiên tri giả. Họ đến với các con trông hiền hoà như chiên nhưng thật ra nguy hiểm như muông sói.
15 “Mata to niwa’an dinab baifufuwenayah hinanan kwana’itih, anayabin hinanan ufuhine ana itinin boro sheep na’atube, baise dogoroh wanawanan ana itinin i haru tuwetuwenih.
16 Các con nhận ra họ bằng hành động của họ. Trái nho không mọc ra từ bụi gai, trái vả cũng không xuất phát từ cỏ gai dại.
16 Hai bowabowamaim boro kwana’inanih, agor ro’on boro men kiw tafanamaim inima’ub, naatu wanob ro’on boro men kiw tafanamaim inima’ub?
17 Hễ cây tốt thì sinh trái tốt, cây xấu thì sinh trái xấu.
17 Ai gewasin boro niw gewas, baise ai wanawanan kour nabiw ro’on boro nukunukuwin.
18 Cây tốt không thể sinh trái xấu, mà cây xấu cũng không sinh được trái tốt.
18 Ai gewasin boro men ro’on nukunukuwin nayai, na’atube ai kakafin boro men ro’on gewasin nayai.
19 Cây nào không sinh trái tốt thì bị đốn và ném vào lửa để chụm.
19 Ai menatan men ebiw gewas boro natar nare nab nan wairaf wan nayara’ah na’arah.
20 Vì thế các con nhận ra những người tiên tri giả ấy qua việc làm của họ.
20 Imih dinab baifufuwenayah boro hai bowabowamaim kwana’inanih.
21 Không phải hễ ai gọi ta là Chúa đều sẽ được vào Nước Trời đâu. Người vào Nước Trời là những người làm theo ý muốn của Cha ta trên thiên đàng.
21 “Men sabuw etei ayu wabu hisu’ub teo, ‘Regah, Regah’ boro mar ana aiwobomaim hinarun, baise sabuw iyabowat ayu Tamai ana kok tisisinafuwat boro hinarun.
22 Đến ngày cuối cùng, nhiều người sẽ nói với ta, ‘Lạy Chúa, lạy Chúa, chúng con đã nhân danh Ngài truyền bá đạo Chúa, đuổi quỉ và làm nhiều phép lạ.’
22 Baibatebat ana veya nanan, sabuw moumurih na’in boro hinao, Regah, Regah, o wabimaim aki tur abai aorereb, o wabimaim aki demon kakafih anunih hibihir, naatu o wabimaim aki ina’inan moumurih na’in asinaf.
23 Nhưng ta sẽ tuyên bố rõ ràng với họ, ‘Nầy những kẻ làm ác, hãy đi cho khuất mắt ta! Ta chưa hề biết đến các ngươi.’
23 Imaibo ayu boro anauwih anao, Ayu men aso’ob kwa iyab. Biyau’umaim kwatit sa’ab kwan, bowabow kakafih sinafuyah.
24 Ai nghe lời ta và làm theo, thì giống như người khôn, xây nhà mình trên khối đá.
24 “Isan imih orot yait au tur nowar ebobosiyasiyar, i orot not wairafin ana bar to tafan wowab batabat na’atube.
25 Mưa lũ xuống, nước lụt tràn đến, gió thổi ào ào vào căn nhà ấy nhưng không sao cả, vì nhà được xây trên khối đá.
25 Taun gagamin yar, harew tit, naatu wowog tit bar babin, baise bar men ufar re’emih, anayabin bar ana bubu an i to wanawanan rouw re wowab.
26 Còn ai nghe lời ta mà không làm theo thì giống như người dại dột xây nhà trên cát.
26 Baise orot yait au tur nowar naatu men ebobosiyasiyar, i orot aurin not en bar ana bubu dones yan rouw wowowab na’atube.
27 Mưa lũ xuống, nước lụt tràn đến, gió thổi ào ào vào căn nhà đó, thì nó bị sập tan tành liền.”
27 Taun yar, harew tit, naatu wowog babin, bar babinakouw, naatu nati bar re’ere i ra’iy tagurugurus sawar.”
28 Chúa Giê-xu dạy xong thì dân chúng rất ngạc nhiên về lối dạy của Ngài.
28 Jesu iti tur eo in sasawar ufunamaim, sabuw rou’ay gagamin na’in Jesu binan hinonowar isan hifofofor men kafaita.
29 Vì Ngài dạy như người có quyền năng, chứ không giống như các giáo sư luật của họ.
29 Anayabin bi’obaiyih ana itinin i roubabaruwen ana fair isan ma’am na’atube, men Ofafar Bai’obaiyenayah na’atube’emih.
Atalhos do teclado
- Capítulo anterior←
- Próximo capítulo→
- Versículo anteriork
- Próximo versículoj
- Limpar seleçãoEsc
- Esta ajuda?
Estude este capítulo no WhatsApp
Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Mateus 7, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.