Mateus 5
Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI
1 Khi Chúa Giê-xu nhìn thấy đám đông thì Ngài lên ngồi trên một ngọn đồi. Các môn đệ đến với Ngài,
1 Jesu sabuw rou’ay gagamin maiyow hinan itih, basit heher yen in koun yan mare ana bai’ufununayah hina sisibinamaim himarir.
2 rồi Ngài bắt đầu dạy dỗ:
2 Naatu busuruf i’obaibiyih eo, Jesu Oyaw tafan ma ebi’obiyih|alt="sermon on mount" src="CN01700B.TIF" size="col" loc="Mat 5.2" copy="©1978 David C. Cook Publishing Co." ref="5.2"
3 “Phúc cho những ai đang nghèo khó về tâm linh,
3 “Sabuw iyab ayubih ana’amorob tebaib boro baigegewasin hinab, anayabin mar ana aiwob boro ninowah hinab.
4 Phúc cho những ai đang buồn bã,
4 Sabuw iyab hiyababan tererey God boro ni’afutih baigegewasin nitih.
5 Phúc cho những ai khiêm nhường,
5 Sabuw iyab taiyuwih teyayara’iyih boro baigegewasin hinab, anayabin me tafaram boro ninowah hinab.
6 Phúc cho những ai lúc nào cũng cố gắng làm điều phải,
6 Sabuw iyab gewasin sinaf isan hi’amorob sikah emamamah boro baigegewasin hinab, anayabin God boro nitih hinab nasusuwih.
7 Phúc cho những ai tỏ lòng nhân ái đối với kẻ khác,
7 Sabuw iyab tekakabeber boro baigegewasin hinab, anayabin God boro nakabibirih.
8 Phúc cho những ai có tư tưởng trong sạch,
8 Sabuw iyab dogoroh uhew boro baigegewasin hinab, anayabin God boro hina’itin.
9 Phúc cho những ai mang lại hòa thuận,
9 Sabuw iyab tufuw ma gewas isan tebowabow boro baigegewasin hinab, anayabin God boro natunatumih nabuwih.
10 Phúc cho những ai bị ngược đãi vì làm điều phải,
10 Sabuw iyab gewasin tisisinaf isan hirouw tibi’a’akirih boro baigegewasin hinab, anayabin mar ana aiwob boro hinab.
11 Người ta sẽ nhục mạ và làm tổn thương các con. Họ sẽ lấy mọi điều xấu vu cáo các con vì các con theo ta. Nhưng khi họ làm như thế thì các con có phúc.
11 “Kwabi’ufununu isan sabuw boro tur kakafin hina’uwi, hinarabi hini’a’a’akiri naatu baifuwenamaim tur kakafih maiyow hina’u’uwi isan, baigegewasin boro kwanab.
12 Hãy hớn hở vui mừng lên, vì có một phần thưởng rất lớn đang dành cho các con trên thiên đàng. Vì họ cũng đã ngược đãi các nhà tiên tri sống trước các con như vậy.”
12 Kwaniyasisir naatu kwanakawasa, anayabin a siwar gagamin na’in auyom maramaim inu’in boro kwanab. Ef ta’imon nati na’atube marasika dinab oro’orot hirouw hi’a’a’akirih.
13 “Các con là muối của đất. Nhưng nếu muối mất vị mặn thì sẽ không thể nào làm cho mặn lại được. Muối đó hoàn toàn vô dụng, chỉ có thể ném bỏ để người ta dẫm lên thôi.
13 “Kwa i riy na’atube sabuw etei isah. Baise riy naniyan nabi’en na’at boro men karam hiniwa’an naniyan namatar maiye’emih, naatu sawar isan ana gewasin boro men ta nama, imih boro hinisaroun haw nare, sabuw tafan hinawas kamakamar hinaremor.
14 Các con là ánh sáng chiếu cho thế giới. Các con là cái thành xây trên núi, không thể bị che khuất được.
14 “Kwa i tafaram ana marakaw. Bar merar gagamin oyaw wan hiwowab ebatabat boro men karam hinibun wa’irimih.
15 Không ai thắp đèn rồi đem giấu dưới cái chậu, nhưng người ta đặt trên chân đèn, để nó chiếu sáng mọi người trong nhà.
15 Na’atube orot babin men ta ramef ito’ab noukwat wanawanan tarafut inumih. Baise ana sisikofamaim boro nasikof bar wanawanan etei namarakaw kawin hinama.
16 Cũng thế, các con phải làm ánh sáng cho người khác. Hãy sống cách nào để người ta thấy những việc phúc đức các con làm mà ca ngợi Cha các con trên trời.
16 Ef ta’imon nati na’atube a marakaw sabuw etei matahimaim kwanabotawiy, saise abisa gewasin kwabowabow hina’itin naatu Tamat maramaim wabin hinabora’ara’ah.
17 Đừng tưởng rằng ta đến để phá luật pháp Mô-se và lời dạy của các nhà tiên tri. Ta đến không phải để phá, mà để hoàn thành những gì luật pháp và các nhà tiên tri nói.
17 “Ayu anan men kwananot Moses ana ofafar naatu dinab oro’orot hai bai’obaiyen baihamiyen isan ao’omih. Ayu men i kouseiren isan anamih, baise sinaf yabih matar isan.
18 Ta bảo thật, sẽ không có một điều gì trong luật pháp biến mất đi cho đến khi không còn trời đất nữa. Dù một chấm một nét cũng không bay mất, cho đến khi mọi việc được hoàn thành.
18 Anababatun a tur a’owen, mar tafaram ema’am wanawananamaim kirum kikimin maiyow hikikirum, naatu pen wanamaim abisa hikukuyowan boro men ta anakusairimih, baise etei boro anasinaf yabih hinamatar.
19 Ai không tuân giữ điều nhỏ nhất trong luật pháp và dạy người ta như thế sẽ là người thấp kém nhất trong nước thiên đàng. Còn ai vâng giữ luật pháp và dạy người ta vâng theo sẽ được tôn trọng trong nước thiên đàng.
19 Orot yait ofafar kikimin maiyow itin yabin en rouw eastu’ub naatu sabuw afa i’obaiyih nati na’atube tisisinaf, mar ana aiwobomaim ibo boro hina’itfuruw, anayabin en hinarouw hinao, baise orot yait iti ofafar ia’ait naatu sabuw afa ebi’obaiyih mar ana aiwobomaim i boro orot gagamin.
20 Ta bảo các con phải sống tốt hơn những người Pha-ri-xi và các giáo sư luật, nếu không các con không thể nào vào nước thiên đàng được đâu.
20 A tur ao’owen o yait abosunusunub nara’at Pharisee naatu Ofafar Bai’obaiyenayah inananatabirih na’at, o i nuhinafot mar ana aiwobomaim i kurur.
21 Các con có nghe người ta dạy dân chúng từ xưa, ‘Ngươi không được giết người. Ai giết người sẽ bị xét xử.’
21 “Tur marasika hio uwatanah hinonowar i hio kwanowar, men sabuw kwana’asbunuw, naatu orot yait sabuw ea’asbunuwih boro ofafar nafatum hinibatiy.
22 Nhưng ta bảo các con, ai tức giận anh chị em mình sẽ bị xét xử. Ai nói xấu anh chị em mình phải bị hội đồng cao cấp Do-thái xét xử. Còn ai gọi người khác là đồ điên, thì đáng bị lửa địa ngục trừng phạt.
22 Baise boun i a tur ao’owen, orot yait taintuwan isan yan nasoso’ar boro ofafar nafatum hinibatiy, naatu orot yait taintuwan isan fudirin en narouw nao’o, i boro kaniser hinibatiy. Baise orot yait taintuwan na’oraraf anayabin en nao, nati orot i enan kakafin ana wairaf wan nayenamih.
23 Khi các con dâng của lễ cho Thượng Đế nơi bàn thờ, mà nhớ lại rằng anh chị em mình còn có điều gì nghịch với mình,
23 “Isan imih gem kakafiyin tafamaim o a siwar ya’inamih ibai kuyey, naatu nati’imaim o nuhi nataseb, tai ta o isa i yan esoso’ar.
24 thì hãy để của lễ nơi bàn thờ, trở về giảng hòa cùng anh chị em mình trước đã, rồi sau đó hãy dâng của lễ.
24 Basit a siwar nati gem tafanamaim inihamiy na’in, o inamatabir maiye inan tai airi kwanao gewas uma kwanabow kwanitonuw, imaibo inamatabir inan a siwar God initin.
25 Nếu kẻ thù lôi các con ra tòa, hãy làm hòa với họ ngay trước khi đến tòa. Nếu không, kẻ thù các con sẽ giao các con cho quan tòa, quan tòa giao cho người cai ngục tống giam các con.
25 “Ofafar ta ina’astu’ub taituwa baibatiyihimih nabuwi kwanan, airi kwanao gewas kwanitonuw, veya kikimin nama’am na’at, imaibo inan baibatiyenamaim inarun, anayabin nati’imaim tura boro nabuwi baibatiyenayan orot gagamin umanamaim naya’i, naatu baibatiyenayan orot boro nabuwi furisiman nitih hinabuwi kwanan dibur bar hinayaruyi.
26 Ta bảo thật, chừng nào chưa trả hết đồng tiền cuối cùng, thì các con không thể bước chân ra khỏi tù được đâu.
26 Anababatun a tur ao’owen, nati’imaim o boro inama kabay hio na’atube inatubuni, imaibo boro hinabotait inatit.
27 Các con có nghe nói, ‘Ngươi không được phạm tội ngoại tình.’
27 “Tur hio uwatanah hibi’obaibiy i hio kwanowar, turanah a’aawah ufuh men kwanan.
28 Nhưng ta bảo các con, ai nhìn đàn bà mà động lòng dục với người ấy thì trong tâm trí xem như đã phạm tội ngoại tình với người đàn bà ấy rồi.
28 Naatu boun a tur ao’owen orot yait matanawat nuw babin itin ana notamaim hairi baiwa’anamih enotanot ana notamaim hairi hiwa’anaka.
29 Nếu mắt phải của các con xui khiến các con phạm tội, thì hãy móc và ném nó đi. Chẳng thà thiếu mất một phần cơ thể, còn hơn toàn thân thể bị ném vào hỏa ngục.
29 Imih o mata asukwafune nuw kwaneyan, o in bowabow kakafin kusisinaf, kukubai kwisaroun, men basit mata ta’imon ana kakafinamaim o biya etei tan wairaf wan tayen ta’arah.
30 Nếu tay phải các con xui khiến các con phạm tội, hãy chặt nó và ném bỏ đi. Chẳng thà thiếu mất một phần cơ thể, còn hơn cả thân thể đi vào hỏa ngục.
30 Na’atube uma asukwafune eof kwaneyan, ku’afuw kwisaroun men basit uma ta’imon ana of kwanekwanemaim o biya etei tan wairaf wan tayen ta’arah.
31 Có lời viết, ‘Ai ly dị vợ mình thì phải cho người ấy giấy ly hôn.’
31 “Moses ana ofafaramaim eo, ‘Orot yait aawan nakwakwahir gewasin kwahikwahiren ana fef nakirum babin nitin nab auman nan.’
32 Nhưng ta bảo các con: Ai ly dị vợ mình là làm cho người đàn bà ấy phạm tội ngoại tình. Chỉ có một nguyên nhân duy nhất để ly dị vợ là nếu nàng ăn nằm với một người đàn ông khác. Còn ai cưới người đàn bà bị ly dị ấy cũng phạm tội ngoại tình.
32 Baise boun i a tur ao’owen, orot yait nibobowen aawan nakwahir nan orot ta ni’awan, hairi hinabiwa’an i men babin ana ubar, baise orot ana ubar anayabin i kok imih babin esisinaf, naatu orot yait nati babin bai bi’awan auman bowabow kakafin esisinaf.
33 Các con có nghe người thời xưa nói, ‘Không được trái lời thề, mà phải giữ lời thề đối với Chúa.’
33 “Tur marasika hio uwatanah hinonowar i hio kwanowar, ‘A omatanen men kwana’astu’ub, baise sinafumih God kwao’omatan i kwanasinaf.’
34 Nhưng ta bảo các con, đừng thề thốt gì hết. Đừng chỉ trời mà thề, vì đó là ngôi của Thượng Đế.
34 Baise boun i a tur ao’owen, God wabinamaim men asir kwanao kwanifaro’omih, na’atube auyom mar isan, anayabin nati i God ana ma’ama efan.
35 Cũng đừng chỉ đất mà thề, vì đó là bệ chân Ngài. Đừng chỉ thành Giê-ru-sa-lem mà thề, vì đó là thành của Vua Lớn.
35 Me yan auman men isan kwanifaro, anayabin nati i God an ana baibiyarir efan, Jerusalem auman, anayabin nati i ata aiwob gagamin God ana tafaram.
36 Cũng đừng chỉ đầu mình mà thề, vì tự các con không thể làm một sợi tóc trên đầu ra trắng hay đen được.
36 Naatu o taiyuw auman men arib isan inao baifaro’omih, anayabin o men karam boro arib ta inab inau nikwes o nafurum.
37 Điều gì phải thì nói phải, không thì nói không. Còn nếu ai nói gì ngoài hai cách ấy, đều do Kẻ Ác mà ra.
37 Imih inakwahir o inarufut, anayabin abisa awamaim iya’abar i’o etitit i Demon Kakafin biyanane enan.
38 Các con có nghe nói, ‘Mắt đền mắt, răng đền răng.’
38 “Marasika ana tur hio kwanowar, ‘Orot yait mata nakubai, ibo matan kukubai, naatu orot yait wa nimarir, ibo wan kwimarir.’
39 Nhưng ta bảo các con: Đừng chống trả kẻ ác. Nếu ai tát má bên mặt, đưa luôn má bên trái cho họ.
39 Baise boun i a tur ao’owen, orot yait isa nasisinaf kakaf men wan inay, rebareb rounane nifafar inatatabir rounane’ebo nifafar.
40 Nếu ai kiện các con ở tòa để lấy áo trong, hãy cho họ lấy luôn áo ngoài.
40 Naatu orot yait niyaso’ar baibatiyimih nabuwi kwananan, a biya baibiyon baban nikiya’ub nabaib, a biya baibiyon tafan auman inikiya’ub initin.
41 Nếu ai ép các con đi một dặm với họ, đi luôn hai dặm.
41 Baiyowayan orot ta nan nakwarari ana hafoy abarin veya ta’imon airi namih nao, ina’abar veya rou’ab airi kwanan.
42 Ai xin gì thì hãy cho họ. Ai muốn mượn gì thì đừng từ chối.
42 Orot babin ta isa sawaramih nafefeyani kwitin, naatu orot babin ta a sawar bai na mar kafai imaim bowamih nao, kwitin ebai en.
43 Các con có nghe, ‘Hãy yêu người láng giềng và hãy ghét kẻ thù mình.’
43 “Marasika ana tur hio a’a’agir hinonowar i hio kwanowar, ‘Taituwa kwaniyabuwih naatu a kamabiy sabuw kwanimat gigigirih.’
44 Nhưng ta bảo các con, hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho kẻ làm tổn thương mình.
44 Baise boun a tur ao’owen, a kamabiy sabuw kwaniyabuwih naatu sabuw iyab terurukoukuwi isah kwanayoyoban.
45 Làm như thế thì các con mới chứng tỏ mình là con cái thật của Thượng Đế. Vì Ngài khiến mặt trời mọc lên cho người thiện cùng người ác, làm mưa cho người làm phải cũng như cho người làm quấy.
45 Saise kwa boro Tamat auyom maramaim natunatumih nabuwi, anayabin God sinaf sabuw gewasih kakafih etei tafahimaim veya erararan, sabuw iyab gewasin tisisinaf naatu kakafin tisisinaf etei God taun ebitih.
46 Nếu các con chỉ yêu người yêu mình thì có được thưởng gì đâu? Bọn thu thuế cũng làm được như vậy.
46 Sabuw kabay o’onayah tisisinaf na’atube kwanasinaf sabuw iyabowat isa tibiyabowawat isah kwanabiyabow, God boro men ana siwar gewasin ta nitimih.
47 Nếu các con chỉ tốt với bạn, thì các con chẳng khá hơn kẻ khác đâu. Những người không biết Thượng Đế cũng tốt với bạn.
47 Naatu Eteni Sabuw taih tuwah akisih hai merar tiyiy na’atube kwanasinaf taituwa akisih hai merar kwanayiyi, ana gewasin boro men kwanabaimih.
48 Cho nên các con phải toàn vẹn giống như Cha các con trên thiên đàng là toàn vẹn.”
48 A yawas uhew bitan kwanama, Tamat auyom maramaim ana yawas uhew bitan ema’am na’atube.
Atalhos do teclado
- Capítulo anterior←
- Próximo capítulo→
- Versículo anteriork
- Próximo versículoj
- Limpar seleçãoEsc
- Esta ajuda?
Estude este capítulo no WhatsApp
Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Mateus 5, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.