Mateus 26
Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI
1 Sau khi dạy xong những điều ấy, Chúa Giê-xu bảo các môn đệ,
1 Jesu bi’obaibiyih ufunamaim, ana bai’ufununayah isah eo,
2 “Các con biết rằng ngày mốt là lễ Vượt Qua. Trong ngày đó Con Người sẽ bị trao vào tay kẻ thù Ngài để bị đóng đinh.”
2 “Kwanaso’ob veya rou’ab ufunamaim Tar Nowaten ana hiyuw enan. Nati ana veya’amaim Orot Natun boro hinab rakit sabuw umahimaim hinayai hina’onaf.”
3 Lúc ấy, các giới trưởng tế và các bô lão họp mặt tại nhà của Cai-pha là thầy tế lễ tối cao.
3 Imaibo Firis ukwarih naatu regaregah ai’in etei firis gagamin Kaiafas ana baremaim hiru’ay.
4 Trong phiên họp, họ tìm mưu kế để bắt và giết Ngài.
4 Naatu Jesu wa’iwa’iramaim fatumin bain asabunin isan hiyakitifuw.
5 Nhưng họ bảo nhau, “Chúng ta không nên làm chuyện nầy trong kỳ lễ vì dân chúng sẽ nổi loạn.”
5 Baise hio, “Men hiyuw tanabowabow wanawananamaim, anayabin rakit boro tanaku’ub was hinagiy.”
6 Chúa Giê-xu đang ở Bê-tha-ni, nơi nhà của Xi-môn là người trước kia mắc bệnh cùi.
6 Jesu na Bethany orot Simon biyan kokom ani’anin ana baremaim tit,
7 Trong khi đang ở đó thì một người đàn bà đến gần Ngài, tay cầm một chai bằng ngọc đựng đầy dầu thơm rất đắt tiền. Chị đổ nguyên chai dầu thơm trên đầu Chúa Giê-xu trong khi Ngài đang ăn.
7 mare ma bay eaa auman babin ta kibub kikimin kabay wabin alabaster imaim hikwak raiy ana baiyan gagamin hisuwai batabat bai na run Jesu aribun yan isuwai re.
8 Các môn đệ thấy thế rất bất bình. Họ bảo, “Tại sao phí dầu thơm ấy như vậy?
8 Ana bai’ufununayah hi’itin yah so’ar hio, “Iti sawar i yabin en asir esisinaf.
9 Dầu đó có thể đem bán được nhiều tiền để giúp kẻ nghèo.”
9 Igewasin iti raiy ana baiyan tatayara’ah hitatubun kabay tatab, sabuw yababan wairafih tatitih.”
10 Biết chuyện, Chúa Giê-xu bảo, “Sao các ông quấy rầy chị nầy? Chị đã làm việc rất tốt cho ta.
10 Baise Jesu so’ob abisa hio, imih iuwih eo, “Babin men yumatanamaim kwana’umih. Anayabin sawar gewasin maiyow ayu isau esisinaf.
11 Các ông lúc nào cũng có người nghèo ở với mình nhưng không có ta bên cạnh luôn đâu.
11 Sabuw yababan wairafih boro mar etei bairi kwanama kwanibaisih, baise ayu i boro men mar etei bairi tanama’amih.
12 Chị đổ dầu thơm trên thân ta là để chuẩn bị chôn cất ta đó.
12 Iti babin ayu biyau raiy erabirab i ayu au morob isan eyayabuna.
13 Ta bảo thật, hễ nơi nào Tin Mừng nầy được truyền ra trong thế gian thì việc chị làm sẽ được nhắc đến để nhớ chị.”
13 Anababatun a tur ao’owen, tafaram wanawananamaim iti Tur Gewasin hinabibinan ana maramaim abisa gewasin iti babin sisinaf boro kik owe’owen na’atube auman hinabinan.”
14 Lúc đó Giu-đa, một trong mười hai sứ đồ đến nói chuyện với các giới trưởng tế.
14 Imaibo bai’ufununayah nah 12 wanawanahimaim orot wabin Judas Iscariot tit in firis ukwarih biyah tit,
15 Hắn hỏi, “Các ông trả cho tôi bao nhiêu để tôi trao Giê-xu vào tay các ông?” Họ trả cho hắn ba chục đồng bạc.
15 naatu ibatiyih, “Ayu Jesu anab kwa anabit boro abisa ayu kwanitu?” Naatu matanamaim kabay hibotait hiyab in 30 na’atube hiya’asair.
16 Từ đó hắn rình cơ hội để giao nộp Chúa Giê-xu.
16 Nati ana veya’amaim Judas ef ana gewasin nuwet Jesu batih isan.
17 Hôm đầu tiên của ngày lễ Ăn Bánh Không Men, các môn đệ đến hỏi Chúa Giê-xu, “Thầy muốn chúng con dọn bữa ăn lễ Vượt Qua cho Thầy ở đâu?”
17 Faraw Wanawanan Yeast En ana hiyuw veya wantoro’ot bubusuruf, Jesu ana bai’ufununayah hina hio, “Menamaim kukokok Tar Nowaten ana bay anabogaigiwas?”
18 Ngài đáp, “Các con hãy đi vào thành và bảo người kia, ‘Thầy nói: Thì giờ đã đến rồi. Ta sẽ ăn lễ Vượt Qua cùng các môn đệ ta ở nhà anh.’”
18 Jesu iyafutih eo, “Kwanan Jerusalem bar merar kwanatit orot iti ana tur kwana’owen kwanao, ‘Bai’obaiyenayan eo, ayu au veya i natit, akokok au bai’ufununayah bairi boro o abaremaim Tar nowaten ana hiyuw anaa aniyasisir.’”
19 Các môn đệ làm theo điều Chúa Giê-xu căn dặn và dọn bữa ăn lễ Vượt Qua.
19 Bai’ufununayah Jesu eobaimanih na’atube hisinaf, Tar Nowaten ana hiyuw hibogaigiwas.
20 Đến chiều, Chúa Giê-xu và các môn đệ ngồi vào bàn.
20 Naatu nati rabirab bai’ufununayah etei 12 Jesu bairi himare hibusuruf bay hiaa.
21 Trong khi đang dùng bữa, Chúa Giê-xu bảo, “Ta bảo thật, một người trong các con sẽ phản ta.”
21 Bay hiaa wanawananamaim Jesu eo, “Turobe a tur ao’owen, kwa wanawanamaim orot ta boro babau inao anamorob.”
22 Nghe thế các môn đệ rất buồn bã. Mỗi người lần lượt hỏi Ngài, “Thưa Chúa, có phải con không?”
22 Ana bai’ufununayah hai yababan ra’at, naatu ta’ita’imon hibusuruf Jesu hibabatiy hio, “Regah, nati i men ayu’umih?”
23 Chúa Giê-xu đáp, “Người nhúng tay với ta vào trong chén là người sẽ phản ta.
23 Jesu iyafutih eo, “Orot menatan ayu airi tew wanawanan ai rafiy anabubutu’ub, nati orot i boro ayu babau nao.
24 Con Người sẽ phải chịu chết theo như lời Thánh Kinh viết. Nhưng khốn cho người nào trao Con Người để bị giết. Thà nó đừng sinh ra đời còn hơn.”
24 Orot Natun i boro namorob Bukamaim hikirum hio na’atube. Baise orot yait ayu babau nao, nati orot i boro yababan gagamin na’in nab. Gewasin nati orot tafaramamaim men tatufuwamih!”
25 Rồi Giu-đa, người sẽ trao Chúa Giê-xu vào tay các kẻ thù Ngài lên tiếng hỏi, “Thưa Thầy, có phải con là người ấy không?”
25 Judas yanuwayan Jesu ibatiy eo, “Regah, o kunotanot i men ayu’umih?” Jesu iya’afut eo, “O wai.”
26 Lúc đang ăn, Chúa Giê-xu lấy bánh mì, cảm tạ Thượng Đế xong bẻ ra. Rồi Ngài phát cho các môn đệ và nói, “Các con hãy ăn bánh nầy đi; đây là thân thể ta.”
26 Bay hia wanawanan Jesu rafiy bai, i gegewasin sawar, imasib, ana bai’ufununayah itih eo, “Iti i ayu biyau kwabai naatu kwa’aan.”
27 Xong Ngài lấy ly, cảm tạ Thượng Đế rồi đưa cho các môn đệ và bảo, “Tất cả các con hãy uống đi.
27 Imaibo wine kerowasamaim hisuwai batabat bai God ana merar yi sawar, itih eo, “Kwa etei’imak iti kwanatom.
28 Đây là huyết ta dùng làm giao ước mới mà Thượng Đế lập cùng dân Ngài. Huyết nầy đổ ra cho nhiều người được tha tội.
28 Iti i ayu au rara, au Obaibasit Boubun abisuwai sabuw moumurih hai bowabow kakafih notawiyen isan.
29 Ta bảo cho các con biết: Ta sẽ không uống rượu nầy nữa cho đến ngày ta uống rượu mới cùng với các con trên nước của Cha ta.”
29 A tur ao’owen, ayu iti wine boro men anatom, anama’am nati ana veya’amaim wine boubun kwa bairit Tamai ana aiwobomaim tanatom.”
30 Sau khi hát một bản thánh ca, tất cả mọi người đi ra núi Ô-liu.
30 Naatu himisir ew ta hitabor hitit hin Olive Oyawamaim hitit.
31 Chúa Giê-xu bảo các môn đệ, “Đêm nay đức tin các con trong ta sẽ bị lung lay vì theo lời Thánh Kinh đã viết:
31 Imaibo Jesu hai tur eowen eo, “Iti boun gugumin kwa etei boro kwanabihir ayu kwanihamiyu, Buk Atamaninamaim eo na’atube,
32 Nhưng sau khi ta sống lại từ trong kẻ chết, ta sẽ đi trước các con qua miền Ga-li-lê.”
32 Baise ayu morobone anamimisir ufunamaim boro au na ani’iyon wan anan Galilee anatit.”
33 Phia-rơ thưa, “Dù cho mọi người hoang mang trong đức tin vì Thầy, nhưng con thì chắc chắn là không.”
33 Peter iya’afut eo, “Turau’unah boro hinabihir, baise ayu boro men anabihir o anihamiyimih.”
34 Chúa Giê-xu bảo, “Ta bảo thật, đêm nay trước khi gà gáy, con sẽ chối ta ba lần.”
34 Jesu Peter iu, “Anababatun a tur ao’owen, boun gugumin o boro ayu inayaubu mar tounu, naatu i ufunamaim kokorere boro nao’o inanowar.”
35 Nhưng Phia-rơ cả quyết, “Dù cho con phải chết với Thầy đi nữa, con sẽ không bao giờ chối Thầy đâu!” Tất cả các môn đệ khác đều cả quyết như thế.
35 Peter raro’on rab eo, “Ayu boro men kafa’imo tur nati ana’omih, morobomih na’at airit tanamorob.” Naatu bai’ufununayah etei tur ta’imon hio.
36 Rồi Chúa Giê-xu cùng các môn đệ đi đến một nơi gọi là Ghết-sê-ma-nê. Ngài bảo họ, “Các con ngồi đây đợi ta đi đến đàng kia cầu nguyện.”
36 Imaibo Jesu ana bai’ufununayah bairi hitit hin Gethsemane hitit naatu iuwih eo, “Iti imaim kwamare kwama, ayu anan auweyane anayoyoban.”
37 Ngài đem Phia-rơ và hai con trai Xê-bê-đê theo. Ngài bắt đầu buồn bã lắm.
37 Peter naatu Zebedee natunatun rou’ab buwih bairi hin, ana not kwaris naatu dogoron wanawanan ana yababan ra’at
38 Ngài bảo họ, “Lòng ta buồn rầu lắm, có thể chết được. Các con hãy ở đây và thức với ta.”
38 iuwih eo, “Dogorou wanawanan au yababan i ra’at kwanekwan dogorou emama’afut. Imih iti’imaim kwamare mata nanuw bairit tanama.”
39 Sau khi đi cách họ thêm một khoảng nữa, Chúa Giê-xu quì xuống đất và cầu nguyện, “Thưa Cha, nếu có thể được, xin đừng trao cho con ly đau khổ nầy. Nhưng xin hãy làm theo ý muốn Cha, chứ không phải theo ý muốn con.”
39 Jesu akisinamo nabinamaim in yumatan au babe ra’iy yoyoban eo, “Tamai, karam iti biyababan ana kerowas ayu biyau’umaim itabosair, baise men ayu au kok, o a kok.” Bai’ufununayah bay hibow tefafaram|alt="Jesus praying in garden" src="cn01810B.tif" size="col" loc="Mat 26.39" copy="©1978 David C. Cook Publishing Co." ref="26.39"
40 Rồi Ngài trở lại với các môn đệ, thì thấy họ ngủ gục hết. Ngài bảo Phia-rơ, “Các con không thức nổi với ta được một giờ sao?
40 Naatu matabir maiye na ana bai’ufununayah nah tounu hi’inu’in itih, Peter isan eo, “Anayabin aisim nataunu’uka mata hifot kwa’inu’in, karam one hour na’atube mata tanuw bairit tatama?
41 Hãy thức và cầu nguyện để có sức chống chọi sự cám dỗ. Tinh thần rất muốn làm điều phải mà thân thể thì yếu đuối.”
41 Mata to iwa’an kwayoyoban, saise men routobon kwanabaimih. Anun i ekokok yoyoban, baise biya i himorob.”
42 Sau đó Chúa Giê-xu đi lần thứ hai và cầu nguyện, “Thưa Cha, nếu ly đau khổ nầy không thể cất khỏi con được mà con phải nhận thì con nguyện rằng ý muốn Cha được thực hiện.”
42 Mar bairou’abin Jesu in maiye yoyoban eo, “Tamai, iti biyababan ana kerowas bosairin isan ana ef men nama’am na’at, basit anatom, saise a kokok anasinaf namatar.”
43 Ngài trở lại cùng các môn đệ, lại thấy họ vẫn còn ngủ gục vì mắt đừ quá rồi.
43 Matabir maiye nan matah kou bit hi’in yugaranih inan itih.
44 Ngài bỏ họ đi cầu nguyện lần thứ ba giống như trước.
44 Naatu ihamiyih hi’in i mar baitonin matabir in tur ta’imon eo yoyoban maiye.
45 Rồi Ngài trở lại bảo các môn đệ, “Bây giờ mà các con vẫn còn ngủ nghỉ sao? Đã đến lúc Con Người bị giao vào tay các kẻ tội lỗi.
45 Imaibo matabir na ana bai’ufununayah biyah tit eo, “Kwa boro’ika kwa’in kwabiyarir? Mata tinuw, kwamisir, Orot Natun ana veya i natit, sabuw kakafih umahimaim eyey.
46 Hãy đứng dậy. Chúng ta phải đi. Kẻ phản ta đang đến kìa.”
46 Kwamisir tan! Orot yanuwayanaban iti enan kwa’i’itin.”
47 Khi Chúa Giê-xu đang nói thì Giu-đa, một trong mười hai sứ đồ xuất hiện. Cùng đi với hắn có nhiều người mang gươm giáo và gậy gộc. Họ được các giới trưởng tế và các bô lão Do-thái sai đến.
47 Jesu eo ana tur sawara’e, bai’ufununayah 12 wanawanahimaim orot ta, wabin Judas, sabuw kou’ay gagamin na’in, firis ukwarih naatu regaregah ai’in hibiyafarih nawiyih kaiy, kefat, mis hiteten auman bairi hina hitit.
48 Giu-đa ra dấu trước cho chúng, “Ai mà tôi hôn thì chính là người ấy. Hãy bắt đi.”
48 Orot yanuwayan sabuw eobaimanih eo, “Orot menatan anamamamay orotoban nati kwanab kwanafatum.”
49 Giu-đa lập tức bước thẳng đến Chúa Giê-xu và nói, “Chào thầy!” rồi hôn Ngài.
49 Judas mutufor in Jesu biyan tit eo, “Tufuw isa nama Bai’obaiyenayan!” naatu mamay.
50 Chúa Giê-xu bảo, “Bạn ơi, bạn định làm gì thì làm đi.”
50 Jesu iya’afut eo, “Au begon, abisa isan inot inan saife kusinaf.” Imaibo sabuw hibatabat hitit Jesu uman hibai hibukikin.
51 Thấy vậy, một trong các môn đệ vung gươm ra chém đứt vành tai người đầy tớ của thầy tế lễ tối cao.
51 Bai’ufununayan orot ta ana kaiy bora’ah, firis gagamin ana akir wairafin tainin roun eafuw.
52 Chúa Giê-xu bảo người ấy, “Cho gươm con vào vỏ đi. Ai dùng gươm sẽ bị chết vì gươm.
52 Naatu Jesu iu, “A kaiy ana efanamaim kwiwan maiye, anayabin sabuw iyab umahimaim kaiy tema’am boro kaiyomaim hinamorob.
53 Con thừa biết rằng ta có thể xin Cha sai hơn mười hai sư đoàn thiên sứ đến mà.
53 O men iso’obamih, ayu Tamai isan atabifefeyan boro mar ta’imon tounamatar sibisib na’atube tiyafarih ayu hitawasfafaru.
54 Nhưng việc nầy phải xảy ra, nếu không thì làm sao lời Thánh Kinh viết trở thành sự thật được?”
54 Baise nati na’atube anasinaf, Buk Atamaninamaim mataramih hi’o hikikirum boro men niturobe’emih.”
55 Rồi Chúa Giê-xu bảo chúng, “Các anh mang gươm giáo và gậy gộc đến bắt ta như thể ta là tên phạm pháp! Mỗi ngày ta giảng dạy trong đền thờ mà mấy anh không bắt.
55 Naatu tatabir sabuw isah eo, “Ana itinin ayu bainowan mowan na’atube, imih kaiy kefat kwaiteten ayu yuwu rabu’umih kwanan. Mar etei Tafaror Bar wanawananamaim ama sabuw abi’obaiyih aisim men imaim kwatafatumu?
56 Nhưng những việc nầy xảy ra đúng như lời các nhà tiên tri viết.” Lúc ấy tất cả các môn đệ đều bỏ Ngài chạy trốn hết.
56 Baise abisa God ana dinab oro’orot Buk Atamaninamaim hio hikikirum emamatar saife nan niturobe.” Nati’imaim ana bai’ufununayah etei hihamiy hibihir.
57 Những người bắt Chúa Giê-xu giải Ngài đến nhà riêng của Cai-pha, thầy tế lễ tối cao, nơi các giáo sư luật và các bô lão Do-thái đang hội họp.
57 Sabuw Jesu hibai hifatum hibai hin firis gagamin wabin Kaiafas ana baremaim hitit, nati’imaim Ofafar Bai’obaiyenayah naatu regaregah ai’in hiru’ay hima’am.
58 Phia-rơ đi theo sau xa xa, bước vào sân trước tư dinh của thầy tế lễ tối cao. Ông ngồi chung với mấy người lính gác để theo dõi xem người ta xử trí với Chúa Giê-xu ra sao.
58 Baise Peter yokaika Jesu i’ufunun bairi hina, firis gagamin ana bar sebosebomaim hitit naatu run ma’utenayan oro’orot bairi himare abisa tamamatar ta’itin isan.
59 Các giới trưởng tế và toàn thể hội đồng Do-thái tìm chứng dối tố cáo để giết Ngài.
59 Firis gagamin naatu kaniser ana kau’ay etei hiru’ay nuhinot tur hitabow hitit hitifufuwen Jesu tamorob isan.
60 Nhiều người đến bịa đặt những lời cáo về Ngài nhưng cả hội đồng không tìm được lý do chính đáng nào để giết Ngài. Bấy giờ có hai người đến vu cáo rằng,
60 Baise nuhinot tur hinunuwet men ta hibai. Sabuw moumurih maiyow hitit Jesu morobomih hibifufuwen hai tur naniyan en.
61 “Người nầy nói, ‘Ta có thể phá sập đền thờ của Thượng Đế và xây lại trong ba ngày thôi.’”
61 hiorereb hio “Iti orot eo, ‘Ayu i karam God ana Tafaror bar anagurus nare, naatu veya tounu wanawanan boro anawowab efanin namatar.’”
62 Thầy tế lễ tối cao liền đứng dậy hỏi Ngài, “Anh không đối đáp gì hết sao? Người ta tố cáo anh đủ điều mà anh không trả lời à?”
62 Imaibo Firis gagamin misir Jesu isan eo, “O boro men tur ta inao? Orot hairi o a tur isan hio’orereb inonowar boro tur ta inao ai en?”
63 Nhưng Chúa Giê-xu làm thinh.
63 Baise Jesu awanamaim men tur ta titamih.
64 Chúa Giê-xu đáp, “Đúng như ông nói. Nhưng ta bảo thật, trong tương lai các ông sẽ thấy Con Người ngồi bên phải Thượng Đế, Đấng Quyền Năng và ngự đến giữa mây trời.”
64 Jesu iya’afut eo, “Tur i nati kuo, baise kwa etei a tur ao’owen. Mar boro nanan orot Natun boro God uman ana asukwafune nabat mar ana rofom wanawanan nanan kwana’itin.”
65 Nghe như thế, thầy tế lễ tối cao liền xé áo mình và tuyên bố, “Người nầy nói phạm thượng rồi! Chúng ta đâu cần thêm nhân chứng nữa; các anh đã nghe ông ta nói phạm đến Thượng Đế rồi.
65 Firis gagamin iti tur nonowar ana veya ana faifuw bai sib eo, “Iti orot i tur kakafin maiyow eo God ebi’ib! Aisim boro tanama sif rubonayah afa’abo tananuwet? Kwa taiyuw bai’ib tur eo kwanowar,
66 Các anh nghĩ sao?”
66 kwa a not i mi’itube?” Etei hiya’afut hio, “I bowabow kakafin sinaf imih namorob!”
67 Rồi dân chúng khạc nhổ trên mặt Ngài và đấm Ngài. Người khác tát vào mặt Ngài.
67 Imaibo yumatan hikwaitututur, hiborabirab naatu sabuw afa hiboborabirab,
68 Chúng bảo, “Hãy trổ tài nói tiên tri cho chúng ta thấy đi! Hãy nói xem ai đánh ngươi!”
68 hio, “Keriso, o God ana dinab orot na’at kuo anowar! Yait o rab?”
69 Lúc ấy Phia-rơ đang ngồi trong sân. Một đứa tớ gái đến bảo, “Ông cũng theo ông Giê-xu miền Ga-li-lê phải không?”
69 Peter ufun bar ana seboseb wanawanan mare ma’am, Firis Gagamin ana bowayan babitai tit iu, “O auman i Galilee orot Jesu ana of ta.”
70 Nhưng Phia-rơ chối phăng. Ông bảo, “Tôi không hiểu cô nói gì cả.”
70 Baise Peter sabuw etei nahimaim yaub eo, “Ayu o a tur kuo yabin men aso’ob.”
71 Lúc Phia-rơ rời khỏi sân đi về phía cổng thì một cô gái khác thấy. Cô ta nói với mấy người đứng đó, “Ông nầy cũng đi theo Giê-xu người Na-xa-rét đó.”
71 Naatu misir tit in bar ana etawan awanamaim tit, nati’imaim bowayan babitai ta itin naatu oro’orot nati’imaim hibatabat hai tur eowen eo, “Iti orot i Jesu Nazareth mowan ana of ta.”
72 Một lần nữa Phia-rơ lại chối. Ông cả quyết, “Tôi thề là tôi không hề biết ông Giê-xu nầy đâu!”
72 Peter iban maiye yaub naatu ifaro eo, “Ayu nati orot men aso’ob.”
73 Một lúc sau, mấy người đứng quanh đó bước tới bảo Phia-rơ, “Đúng rồi, ông là một trong những người theo ông Giê-xu đó. Giọng nói của ông khai ra.”
73 Hima kafa’imo orot afa nati’imaim hibatabat hina Peter biyan hitit hio, “O i anababatun ni’i orot ana of ta, anayabin a tur kuo ana nowarin naatu a sawar io’osen ana itinin i ta’imon.”
74 Phia-rơ liền thề và cam đoan, “Tôi không hề biết người ấy đâu.” Tức thì gà gáy.
74 Imaibo Peter ifaro eo, “Ana bifufuwen na’at God ana orarafen anab, tur anababatun a tur ao’owen, ayu iti orot men aso’ob.” Mar ta’imon kokorere eo.
75 Phia-rơ liền nhớ lại lời Chúa Giê-xu đã bảo: “Trước khi gà gáy, con sẽ chối ba lần, bảo là không hề biết ta.” Phia-rơ liền bước ra ngoài khóc lóc thảm thiết.
75 Basit Peter nuhin taseb Jesu eo not, “O boro mar tounu ayu inayaubu, imaibo kokorere boro nao.” Naatu Peter tit in ufun rerey igagagamat.
Atalhos do teclado
- Capítulo anterior←
- Próximo capítulo→
- Versículo anteriork
- Próximo versículoj
- Limpar seleçãoEsc
- Esta ajuda?
Estude este capítulo no WhatsApp
Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Mateus 26, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.