Mateus 20
Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI
1 “Nước Trời giống như một chủ đất kia. Buổi sáng nọ ông ra thuê người vào làm trong vườn nho.
1 “God nabi’aiwob ana maramaim i boro iti na’atube. Ana veya ta orot masaw matuwan, sabuw afa tobon ana masawamaim bowamih tit na.
2 Ông đồng ý trả mỗi người một quan tiền cho một ngày công. Rồi ông sai họ vào làm trong vườn nho.
2 Bowayah bow naatu veya ta’imon ana baiyan isan bairi hio hibibasit ufunamaim iyafarih hin grape ana masawamaim hibow.
3 Đến khoảng chín giờ sáng ông ra chợ thấy một số người đứng không.
3 “Nine korok na’atube tit maiye na ahar efanamaim. Orot afa hai bowabow en asir hibatabat itih.
4 Ông bảo, ‘Nếu mấy anh chịu vào làm trong vườn nho tôi, tôi sẽ trả công phải chăng cho.’
4 Basit eo, ‘Igewasin kwa auman boro kwanan au masawamaim kwanabow, naatu kwa a baiyan boro etei anafofonin anit.’ Naatu bowamih hin.
5 Họ liền đi vào vườn nho làm việc.
5 Auyit naatu three korok hairi tit inan i bowabow ta’imon sinaf sabuw asir hibatabat itih naatu uwih hin ana masaw hibow.
6 Đến năm giờ chiều, ông lại ra chợ thì thấy mấy người nữa đang đứng không. Ông hỏi, ‘Tại sao mấy anh đứng đây cả ngày không làm gì cả?’
6 Naatu veya re five korok na’atube, orot tit na maiye, ahar efanamaim titit. Sabuw afa’abo hibatabat itih eo, ‘Kwa aisim asir kwabatabat veya re?’
7 Họ đáp, ‘Vì không ai mướn chúng tôi.’
7 “Hiya’afut hio, ‘Men yait ta tubuni.’
8 Đến cuối ngày, người chủ vườn nho bảo anh trưởng toán làm thuê, ‘Gọi mấy người làm thuê lại trả công cho họ. Bắt đầu từ người cuối cùng tôi mới mướn, cho đến người mướn đầu tiên.’
8 “Veya re birabirab auman, masaw matuwan ana orot ukwarin eaf na iu, ‘Sabuw ina’afih hinan hai baiyan initih, uf hinan hai baiyan wan initih naatu wan hinan uf initih,’ basit eafih hina hirun sawar.
9 Những người mới được mướn lúc năm giờ chiều đến, mỗi người được lãnh một quan tiền.
9 “Imaibo orot iyab five korok hibusuruf hibowabow, hai baiyan itih, veya ta’imon ana fofonin.
10 Đến lượt những người được mướn đầu tiên tới lãnh tiền, họ tưởng sẽ được trả nhiều hơn. Nhưng mỗi người cũng chỉ được lãnh có một quan tiền.
10 Orot mat hina hibowabow, hai biyan bainamih hinan i hinotanot boro hai baiyan gagamin hitab, baise i auman baiyan ta’imon hibai, veya ta’imon ana fofonin.
11 Sau khi nhận tiền, họ phàn nàn với người chủ vườn nho.
11 “Hai kabay hibai sawar hitit hibat. Basit higam masaw matuwan hiu,
12 Họ bảo, ‘Những người mới mướn sau cùng chỉ làm có một giờ đồng hồ mà ông trả cho họ cũng bằng chúng tôi, là những người cả ngày phải chịu nắng nôi.’
12 ‘Iti sabuw i veya re’er auman hina men manin hibag, baise aki bairi ai baiyan ta’imon iti. Aki ai baiyan i boro gagamin atab, anayabin aki mar auman ana a bow in veya re.’
13 Nhưng người chủ vườn nho bảo với một người trong họ, ‘Bạn ơi, tôi bất công với bạn chỗ nào? Có phải bạn đã đồng ý làm việc mỗi ngày một quan tiền rồi không?
13 “Masaw matuwan misir orot ta isan eo, ‘Au begon inaso’ob. Ayu men asinaf kakafemih. Anayabin kwa i kwaibasit veya ta’imon ana baiyan isan, imih kwabow in veya re ana fofonin ait.
14 Thôi hãy nhận tiền công của bạn rồi về đi. Tôi muốn trả công cho người cuối bằng với tiền công tôi trả cho bạn.
14 Abisa abit i kwabai a ubar kwan. Iti oro’orot uf hinan i ayu arubinih hina, imih hai kabay abitih i kwa bairi a baiyan ta’imon.
15 Tiền của tôi, tôi muốn dùng sao mặc ý. Có phải các bạn ganh tức vì tôi đối tốt với những người kia không?’
15 Anayabin ayu au sawar, au kokomaim au kabay mi’itube anim, ayu akisu. Men orot babin ta isan anasisinaf gewas isan ya naso’aramih.’”
16 Vì thế, người chót trong hiện tại sẽ trở thành người đầu trong tương lai, và người đầu trong hiện tại trở thành người chót trong tương lai là như thế.”
16 Naatu Jesu ana tur yomaninamaim eo, “Sabuw iyab iti tafaramamaim orot gagamih tema’am boro maramaim aurih efan en. Baise sabuw iyab iti tafaramamaim God isan tibi’akir maramaim boro orot gagamih hinama.”
17 Trong khi đang đi lên Giê-ru-sa-lem, Chúa Giê-xu đem các môn đệ riêng ra và bảo họ rằng,
17 Jesu ana bai’ufununayah bairi au Jerusalem hinan efamaim buwih nabin akisihimo hai tur eowen eo,
18 “Nghe đây, chúng ta đang đi lên Giê-ru-sa-lem. Con Người sẽ bị trao vào tay các giới trưởng tế và các giáo sư luật, họ sẽ tuyên án xử tử Ngài.
18 “Tanan Jerusalemamaim Orot Natun boro sabuw hinab. Firis ukwarih naatu Ofafar Bai’obaiyenayah hinitih rabin asabunin morobomih hinao.
19 Họ sẽ giao Ngài cho dân ngoại quốc. Những người ấy sẽ chế giễu Ngài, lấy roi đánh đập, rồi đóng đinh Ngài. Nhưng đến ngày thứ ba Ngài sẽ sống lại.”
19 Naatu hinab Eteni Sabuw hinitih, hina’u hi’i’iyab hinarab hina’onaf namorob. Baise veya baitonin ufunamaim boro namisir maiye.”
20 Lúc ấy vợ của Xê-bê-đê và các con trai đến gặp Chúa Giê-xu. Bà bái lạy Ngài và xin Ngài làm cho bà một điều.
20 Imaibo Zebedee aawan natunatun rou’ab bairi Jesu baifefeyanimih hina nanamaim sun yowen natunatun rou’ab isah fefeyan baibaisinamih eo.
21 Chúa Giê-xu hỏi, “Bà xin điều gì?”
21 Jesu ibatiy eo, “Abisa kukokok?” Babin iya’afut eo, “Ayu akokok inao matanu o ina bi’aiwob ana maramaim, ayu natunatu hairi sisib roun roun hinamare bairi kwani’aiwob.”
22 Nhưng Chúa Giê-xu bảo, “Các ngươi không hiểu điều mình xin. Các ngươi có uống được ly đau khổ ta sắp uống không?”
22 Jesu iya’afut eo, “Kwa men kwaso’ob abisa isan kwafefeyanu. Karam ayu au harew ana tomatom turin boro kwanatom?” Tufuturan hairi hiya’afut hio, “Aki karam.”
23 Chúa Giê-xu bảo họ, “Các ngươi sẽ uống ly đau khổ của ta nhưng ta không thể chọn người ngồi bên phải và bên trái ta; hai chỗ ấy dành cho những người nào mà Cha ta đã chuẩn bị trước.”
23 Jesu iuwih eo, “Ayu harew atomatom boro kwanatom, baise ta au asukwafune mare ta au beyawane mare. Ayu men karam boro anarubin. Nati efan i sabuw iyab ayu Tamai isah bobogaigiwas i hai efan.”
24 Khi mười môn đệ kia nghe thế thì tức giận hai anh em ấy.
24 Bai’ufununayah etei ten iti tur hinonowar orot tufuturan hairi isan yah so’ar.
25 Chúa Giê-xu gọi các môn đệ lại dạy rằng, “Các con biết những quan cai trị dân ngoại thích tỏ oai quyền với dân chúng. Còn những nhà lãnh đạo cao cấp thích sử dụng quyền hành mình.
25 Baise Jesu etei eaf ayuwih i’uwih eo, “Kwanaso’ob orot iyab Eteni Sabuw tekakaifih i God men tebitumitum, imih i taiyuwih hai fairamaim sabuw tibiruwih fanah tebai tibi’ufununih.
26 Đối với các con thì không nên làm như vậy. Ai trong các con muốn làm lớn thì phải hầu việc người khác như tôi tớ.
26 Baise kwa wanawanamaim men iti na’atube nama’amih. O yait inakok bai’ukwarinamih, basit taituwa isah inabow ini’akir.
27 Còn ai muốn làm đầu thì phải phục dịch mọi người như nô lệ.
27 Naatu O yait inakok wan bai’iyon bai’ukwarinamih, basit taituwa isah ini’akir.
28 Cũng vậy, Con Người đến không phải để người ta phục vụ mình mà để phục vụ người khác, và hi sinh mạng sống mình để cứu vớt nhiều người.”
28 Iti na’atube kwanasinaf, anayabin Orot Natun nan i men sabuw isan bowamih namih, baise nabow ana yawas sabuw isah ni’inuw saise i ana yawasamaim sabuw niyawasih.”
29 Khi Chúa Giê-xu và các môn đệ rời thành Giê-ri-cô thì có đoàn dân rất đông đi theo Ngài.
29 Jesu ana bai’ufununayah bairi tafaram Jericho hitumar hitit, basit sabuw rou’ay gagamin na’in hitit hi’ufunun bairi hin.
30 Có hai người mù ngồi bên đường, nghe Chúa Giê-xu đi ngang qua liền kêu lớn, “Lạy Chúa, Con Đa-vít ơi, xin thương chúng tôi!”
30 Hinan efamaim orot rou’ab matah fim hima’am Jesu ana tur hinowar, basit hi’af Jesu hifefeyan hio, “David uwan kwiwanbabani.”
31 Dân chúng la rầy hai người, bảo im đi nhưng họ lại còn la lớn hơn nữa, “Lạy Chúa, Con Đa-vít ơi, xin thương chúng tôi!”
31 Sabuw rou’ay gagamin na’in hinan orot rou’ab hikwararih awah fotamih hi’uwih, baise hairi awah aumetawat hi’af hio, “Regah David uwan kwiwanbabani.”
32 Chúa Giê-xu dừng lại hỏi hai người, “Mấy anh muốn ta làm gì cho mấy anh đây?”
32 Jesu inan bat naatu hairi eafih hina ibatiyih eo, “Kwakokok abisa isa anasinaf?”
33 Họ thưa, “Thưa Chúa, chúng tôi muốn sáng mắt.”
33 Orot rou’ab hiya’afut hio, “Regah aki akokok matai hinigewasin ananuw.”
34 Chúa Giê-xu cảm thương hai người. Ngài rờ mắt họ thì lập tức họ được sáng mắt trở lại và đi theo Chúa Giê-xu.
34 Jesu hairi itih iyababan basit matah bobotobonen ana maramaim mar ta’imonamo hairi matah higewasin himisir Jesu hi’ufunun bairi hin.
Atalhos do teclado
- Capítulo anterior←
- Próximo capítulo→
- Versículo anteriork
- Próximo versículoj
- Limpar seleçãoEsc
- Esta ajuda?
Estude este capítulo no WhatsApp
Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Mateus 20, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.