Mateus 19

Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI

Sair da comparação
AAI TUR GEWASIN O BAIBASIT BOUBUN
1 Sau khi dạy xong những điều ấy, Chúa Giê-xu rời vùng Ga-li-lê đi đến miền Giu-đia phía bên kia sông Giô-đanh.
1 Jesu iti tur eo in sawar ufunamaim, Galilee ihamiy in Judea wanawananamaim tit, Jordan harew rewan rounane.
2 Dân chúng theo Ngài rất đông, Ngài chữa lành họ ở đó.
2 Sabuw rou’ay gagamin hi’ufunun hinan etei iyawasih.
3 Có mấy người Pha-ri-xi đến gặp Chúa Giê-xu và định gài bẫy Ngài. Họ hỏi, “Không cần biết vì lý do gì, người đàn ông có được phép ly dị vợ hay không?”
3 Ofafar bai’obaiyenayah hina Jesu an hitain hibatiy hio, “Orot aawan nasisinaf kakaf isan karam boro nakwahir, naatu na kwakwahir i ofafar e’astu’ub ai en?”
4 Chúa Giê-xu đáp, “Chắc hẳn các ông đã đọc trong Thánh Kinh rằng: Khi Thượng Đế sáng tạo thế gian, ‘Ngài dựng nên loài người gồm nam và nữ.’
4 Jesu iyafutih eo, “Bo aneika God orot babin hairi sinafih himamatar isan Buk Atamaninamaim hikirum inu’in kwaiyab kwaitin?”
5 Thượng Đế phán rằng, ‘Người nam sẽ rời cha mẹ mà kết hiệp với vợ mình, và hai người sẽ trở thành một thân.’
5 Tur an i nati imih God eo, “Orot boro hinah tamah nihamiyih, aawan hairi hinita’imon biyah rou’ab, baise hairi hinita’imon biyah ta’imon namatar.
6 Cho nên họ không còn là hai người nữa mà chỉ có một mà thôi. Vì Thượng Đế đã kết hiệp hai người, cho nên không ai được phân rẽ họ.”
6 Imih hairi men biyah rou’ab baise ta’imon. Abisa God bita’imon men yait ta natarbounih.”
7 Người Pha-ri-xi hỏi, “Vậy tại sao Mô-se cho phép người đàn ông ly dị vợ bằng cách trao cho vợ giấy ly hôn?”
7 Ofafar bai’obaiyenayah hibatiy maiye hio, “Bo aisim Moses ana ofafar ta kirum eo, ‘Orot aawan kwahirinamih, kwahikwahiren ana fef nakirum babin nitin nab nan.’”
8 Chúa Giê-xu đáp, “Mô-se cho phép các ông ly dị vợ là vì các ông không chịu chấp nhận lời dạy bảo của Thượng Đế; nhưng từ ban đầu không được phép ly dị đâu.
8 Jesu iyafutih eo, “Kwa a tafa’asaramaim, imih Moses ibasit baibin kwahiren isan eo, baise aneika i men iti na’atube ma’ama’amih.
9 Ta bảo cho các ông biết, ai ly dị vợ và cưới người đàn bà khác là phạm tội ngoại tình. Lý do duy nhất mà người đàn ông có thể ly dị vợ là nếu vợ mình ăn nằm với người đàn ông khác.”
9 Anababatun a tur ao’owen, orot yait aawan anayabin en asir nakwahir, naatu nare babin ta ufun nan hairi hinibiwa’an i bowabow kakafin esisinaf.”
10 Các môn đệ thưa với Ngài, “Nếu đó là lý do duy nhất để ly dị, thì chẳng thà đừng lập gia đình còn hơn.”
10 Naatu Jesu ana bai’ufununayah hibatiy hio, “Orot babin hairi hai ma kakaf nati na’atube tama’am, gewasin men hitatabin, monok baibitar hitama.”
11 Chúa Giê-xu đáp, “Không phải ai cũng có thể chấp nhận lời dạy nầy đâu. Thượng Đế khiến cho một ít người có khả năng chấp nhận thôi.
11 Baise Jesu iuwih eo, “Men orot etei boro iti bai’obaiyen hini’ufununimih, baise iyabowat God rurubinihiwat boro hini’ufunun.
12 Có nhiều lý do khiến một người không lập gia đình được. Có người sinh ra là đã không thể có con rồi. Có người về sau bị tình trạng ấy do người khác gây ra. Cũng có người không lập gia đình vì Nước Trời. Nhưng ai có thể lập gia đình được phải chấp nhận lời dạy dỗ nầy về hôn nhân.”
12 Ef hai yabih moumurih na’in, imih orot men tetatabinamih, afa men tetatabin anayabin afa i yahoh fim, orot afa i yahoh tebowabow, naatu afa i God ana bowabow isan tenotanot, imih men tetatabin. Orot yait iti bai’obaiyen bainamih nakok, basit nab i akisin.”
13 Lúc ấy người ta mang các trẻ thơ đến cùng Chúa Giê-xu để Ngài đặt tay lên và cầu nguyện cho chúng nó nhưng các môn đệ Ngài ngăn cản họ.
13 Sabuw afa kek gidigidih Jesu uman tafah tayara’aten yoyoban isan hibow hinan, ana bai’ufununayah sabuw hikwararih hiotanih.
14 Nhưng Chúa Giê-xu bảo rằng, “Hãy để các trẻ thơ đến với ta, đừng ngăn trở, vì Nước Trời thuộc về những ai giống như chúng nó.”
14 Baise Jesu eo, “Kek kwaihamiyih tena biyau tetit, men kwana’otanih. Anayabin sabuw iyab iti kek hai baitumatum na’atube God ana aiwobomaim tema’am.”
15 Sau khi đặt tay trên các trẻ em, Ngài rời vùng ấy.
15 Basit Jesu kek tafah yara’aten isah yoyoban sawar, imaibo ihamiyih in.
16 Có một người đến hỏi Chúa Giê-xu, “Thưa thầy, tôi phải làm việc thiện gì để hưởng được sự sống đời đời?”
16 Ana veya ta orot ta na Jesu ibatiy eo, “Bai’obaiyenayan, sawar menatan gewasin anasinaf boro ma’ama wanatowan anab?”
17 Chúa Giê-xu đáp, “Sao anh hỏi ta về việc thiện? Chỉ có một Đấng thiện là Thượng Đế mà thôi. Nhưng nếu anh muốn được sự sống đời đời thì phải vâng giữ các mệnh lệnh.”
17 Jesu orot iya’afut eo, “Aisim sawar gewasin isan ayu kubibatiyu? God akisinamo i orot gewasin. O inakok ma’ama wanatowan bain ma’amih, basit ofafar ini’ufunun.”
18 Người đó hỏi, “Thưa thầy, mệnh lệnh gì?”
18 Orot Jesu ibatiy eo, “Ofafar i menatan?” Jesu iya’afut eo, “Men tura ina’asabun, turanah a’aawah bairi men kwaniwa’an, men inabain, men orot babin afa isah inayanuw,
19 hãy hiếu kính cha mẹ’ và phải ‘yêu người láng giềng như mình vậy.’”
19 hinat tamat inakakafiyih naatu o taiyuw isa kubiyabow na’atube taituwa isah iniyabow.”
20 Chàng thanh niên ấy thưa, “Tôi đã vâng giữ mọi điều ấy. Tôi còn phải làm gì nữa?”
20 Orot iya’afut eo, “Iti ofafar etei asinaf sawar, abisa’awat tema’am boro anasinaf?”
21 Chúa Giê-xu đáp, “Nếu anh muốn được hoàn toàn, hãy đi bán hết tài sản, lấy tiền biếu người nghèo. Làm như thế anh sẽ có của báu trên thiên đàng. Rồi đến theo ta.”
21 Jesu iu eo, “O inakok a yawas baigewasinamih. Basit inan a sawar etei sabuw hai sawaramih initih hinatobon, naatu kabay inab yababan wairafih initih. O inan ini’ufununu, nati na’atube inasinaf maramaim o boro isa sawar nakaram.”
22 Nhưng khi nghe vậy thì anh rầu rĩ bỏ đi vì anh giàu lắm.
22 Orot iti tur nonowar ana maramaim yababan auman ana ubar in, anayabin i aurin sawar etei karam.
23 Chúa Giê-xu bảo các môn đệ, “Ta bảo thật, rất khó cho người giàu vào nước thiên đàng.
23 Naatu Jesu tatabir ana bai’ufununayah iuwih eo, “Tur anababatun au’uwi. Orot sawar wairafin i men karam mar ana aiwobomaim narun, boro isan nafokar.
24 Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước Trời.”
24 Au’uwi maiye camel sou’umaim sorabon isan i fokar, anayabin koun butun gagamin. Ef ta’imon nati na’atube orot sawar wairafin i men karam mar ana aiwobomaim narun, boro isan nafokar.”
25 Nghe vậy các môn đệ Ngài vô cùng ngạc nhiên. Họ hỏi, “Thế thì ai được cứu?”
25 Bai’ufununayah iti tur hinonowar ana maramaim hifofofor men kafaita. Naatu hio, “Yait i boro yawas nab?”
26 Chúa Giê-xu nhìn họ đáp, “Việc đó con người làm không được đâu nhưng Thượng Đế làm được mọi việc.”
26 Jesu mutufor nuw itih eo, “Sawar etei orot isah i hifokar, baise God isan sawar etei i men fokarihimih.”
27 Phia-rơ thưa với Ngài, “Thầy xem, chúng con đã bỏ tất cả để đi theo thầy. Vậy chúng con sẽ nhận được gì?”
27 Basit Peter misir eo, “Kwi’iti, aki ai sawar etei ai hamiyen o abi’ufununi abisa boro anab?”
28 Chúa Giê-xu bảo họ, “Ta bảo thật, thời kỳ đến, Con Người sẽ ngồi trên ngôi cao cả của Ngài. Tất cả các con là người đã theo ta sẽ được ngồi trên mười hai ngôi để xét xử mười hai chi tộc Ít-ra-en.
28 Jesu iuwih eo, “Anababatun a tur ao’owen. Tafaram nabobotabir ana maramaim, Orot Natun boro ana urama’ama bonamanamarinamaim namare. Naatu kwa ayu au bai’ufununayah na 12 auman boro urama’amamaim kwanamare Israel sabuw hai big etei 12 kwanakaifih kwanama.
29 Còn ai đã bỏ nhà cửa, anh em, cha mẹ con cái, đất ruộng để theo ta thì sẽ nhận được nhiều hơn những gì họ đã từ bỏ, và được hưởng sự sống đời đời.
29 Sabuw iyab ayu wabu’umaim hai bar hai me, taituwah, ruburubuh, hinahinah tamahinah hihamiyen ayu tibi’ufununu boro hai yawas tafan ana ya’abar anitih. Naatu yawas wanatowan auman anitih hinab.
30 Trong tương lai, nhiều người hiện ở địa vị cao sẽ bị đem xuống chỗ thấp nhất, còn nhiều người hiện ở địa vị thấp nhất sẽ được mang lên chỗ cao nhất.”
30 Baise sabuw iyab boun wan hi’iyon tenan boro hinan hini’uf naatu sabuw iyab hi’uf tenan boro hinan wan hini’iyon. Imih sabuw iyab iti tafaramamaim orot gagamih tema’am maramaim boro aurih efan en. Baise sabuw iyab iti tafaramamaim God isan tibi’akir maramaim boro orot gagamih hinama.”

Ler em outra tradução

Comparar com outra

Estude este capítulo no WhatsApp

Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Mateus 19, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.