Mateus 16
Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI
1 Các người Pha-ri-xi và Xa-đu-xê đến gặp Chúa Giê-xu. Họ muốn gài bẫy Ngài nên xin Ngài cho xem một phép lạ từ Thượng Đế.
1 Pharisee naatu Sadducees afa hikok i Jesu hitikubibiruw, imih hina hio, “Aki akokok ina’inan ta marane ini’obaiyi saise anaso’ob o i anababatun God ana fair ibai.”
2 Chúa Giê-xu đáp, “Khi hoàng hôn xuống, bầu trời đỏ ửng thì các ông nói hôm nay thời tiết tốt.
2 Baise Jesu iyafutih eo, “Rabirab mar ebiwuwun kwa’i’itin, boro kwanao, maras boro veya gewasin nayen.
3 Rồi đến bình minh, các ông nói hôm nay trời sẽ mưa vì bầu trời đỏ và tối sầm. Các ông nhìn dấu hiệu trên bầu trời mà đoán được những gì sẽ xảy ra. Nhưng các ông thấy những điềm lạ của thời đại mà lại không hiểu nghĩa gì sao?
3 Naatu mar auman gagub niwuwun naatu turin nafufurum kwana’itin boro kwanao, boun boro nayar. Kwa i gagub akisin ana itinin kwaso’ob boro kwanao, baise abisa iti boun temamatar hai yabih men karam boro kwanaso’ob.
4 Những người tội lỗi và gian ác nầy xin xem một phép lạ, nhưng họ sẽ không được cho dấu lạ nào ngoài dấu lạ về Giô-na.” Rồi Ngài bỏ đi.
4 Mar iti boun ana sabuw hai fanasair naatu hai tafa’asar i ra’at, ina’inan isah tinunuwet. En! Baise ina’inan ta’imon ebi’obaiyi i Jonah ana i’inan.” Basit Jesu sabuw nati’imaim ihamiyih hima i sa’ab in.
5 Các môn đệ băng qua hồ nhưng quên mang bánh theo.
5 Jesu ana bai’ufununayah harew kukuf hirabon hina rewan rounane hiyey ana maramaim, nuhih taseb hio, “It rafiy men ta tabai auman tarabonamih.”
6 Chúa Giê-xu bảo họ, “Các con hãy thận trọng về men của người Pha-ri-xi và Xa-đu-xê.”
6 Jesu iten ya’ih eo, “Mata to niwa’an kwanakaifi gewas, Pharisee naatu Sadducee hai yeast isan.”
7 Các môn đệ bàn nhau về câu Ngài vừa nói. Họ bảo, “Thầy nói như thế là vì chúng ta quên mang bánh theo.”
7 Naatu bai’ufununayah taiyuwih hibabatiy hio, “It rafiy baina’e tanan isan ma eo?”
8 Biết họ đang bàn với nhau nên Chúa Giê-xu hỏi, “Tại sao các con nói với nhau là vì các con quên đem bánh theo? Đức tin các con quá ít.
8 Jesu abisa isan hio i naniyan bai, imih ibatiyih, “Aisim rafiy ta baina’e tanan isan taiyuw kwakasiy kwama kwabibabatiyi? Kwa a baitumatum i kikimin anababatun.
9 Các con cũng chưa hiểu sao? Các con còn nhớ năm ổ bánh cho năm ngàn người ăn không? Các con có nhớ thu lại được đầy bao nhiêu giỏ những bánh thừa không?
9 A not boro’ika kwarisin ema’am. Sabuw etei 5, 000 rafiy fafar faive’imo imaim abituwih isan nuhi bur? naatu kwaso’ob sakasak etei bai’ab kwaiwanfoten?
10 Hoặc bảy ổ bánh cho bốn ngàn người ăn và bao nhiêu giỏ bánh thừa các con gom được sao?
10 Na’atube rafiy sevenimo sabuw 4, 000 abituwih sakasak etei bai’ab kwaiwanfoten?
11 Ta không phải nói đến bánh đâu. Tại sao các con không hiểu điều đó? Ta bảo các con là phải thận trọng về men của các người Pha-ri-xi và Xa-đu-xê.”
11 Aisim a not boro’ika hikwaris ayu rafiy isan ao kwararouw, en baise Pharisee naatu Sadducee hai yeast isan kwanakaifi gewasomih ao.”
12 Lúc bấy giờ các môn đệ mới hiểu rằng không phải Ngài nói coi chừng về men làm bánh mà là về những lời dạy dỗ của người Pha-ri-xi và Xa-đu-xê.
12 Imaibo bai’ufununayah naniyan hibai, Jesu i men yeast maiyow rafiy wanawanan teyai’iyai isan matah toniwa’anamih, baise Pharisee naatu Sadducee hai bai’obaiyen isan matah toniwa’an.
13 Khi đến khu vực thành Xê-xa-rê Phi-líp, Chúa Giê-xu hỏi các môn đệ, “Người ta nói Con Người là ai?”
13 Jesu na Caesarea Philipi wanawananamaim titit ana veya, ana bai’ufununayah ibatiyih, “Sabuw Orot Natun isan mi’itube teo kwanonowar?”
14 Họ thưa, “Có người nói thầy là Giăng Báp-tít. Kẻ khác nói thầy là Ê-li, người khác nữa nói thầy là Giê-rê-mi hoặc một trong các nhà tiên tri.”
14 Hiya’afut hio, “Sabuw afa i teo John Baptist, afa Elijah, afa i Jeremiah, naatu afa teo i dinab orot ta.”
15 Nhưng Ngài hỏi họ, “Còn các con nói ta là ai?”
15 Ana bai’ufununayah ibatiyih eo, “Bo kwa ayu isau i mi’itube kwa’o?”
16 Xi-môn Phia-rơ thưa, “Thầy là Đấng Cứu Thế, Con của Thượng Đế hằng sống.”
16 Simon Peter iya’afut eo, “O i God Tafa eof nowah God ma’ama wanatowanin Natun.”
17 Chúa Giê-xu đáp, “Xi-môn con Giô-na ơi, con có phúc lắm vì không ai dạy cho con biết điều ấy đâu mà Cha ta trên trời tỏ cho con biết.
17 Jesu iya’afut eo, “Simon, Jonah natun abigegewasini. Anayabin nati tur anababatun i men orot ta biyanane na irererebamih, baise marane Tamai mutufor o it.
18 Ta bảo con, tên con là Phia-rơ. Ta sẽ lập hội thánh ta trên tảng đá nầy, quyền lực của sự chết cũng không thể thắng nổi hội đó.
18 Imih a tur ao’owen o i Peter. Iti kabay tafanamaim ayu boro au ekaleisia anawowab. Naatu morob ana fair boro men kafa’imo natafufur nare’emih.
19 Ta sẽ giao chìa khóa để đóng hay mở nước Trời cho con; những gì con buộc tội dưới đất cũng sẽ bị Thượng Đế trên trời buộc tội, còn những gì con tha thứ dưới đất cũng sẽ được Thượng Đế tha thứ.”
19 Ayu boro mar ana tufatan anit; abisa iti tafaramamaim kututufatan, maramaim boro ana tufatan. Naatu abisa iti tafaramamaim kururufam, maramaim boro ana rufam.”
20 Rồi Chúa Giê-xu cấm các môn đệ không được cho người khác biết Ngài là ai.
20 Imaibo Jesu ana bai’ufununayah awah bofot eo, “Ayu i Tafau hi’of nowah imih men yait ta ana tur kwana’owenamih.”
21 Từ lúc ấy, Chúa Giê-xu bắt đầu cho các môn đệ biết là Ngài sẽ lên Giê-ru-sa-lem, ở đó các bô lão Do-thái, các giới trưởng tế và các giáo sư luật sẽ hành hạ Ngài đủ điều. Ngài cho họ biết là Ngài sẽ chịu chết và sau ba ngày sẽ sống lại từ kẻ chết.
21 Nati ana veya’amaim Jesu busuruf ana bai’ufununayah isah tur mutufor iuwih eo, “Ayu i anan Jerusalem ana tit biyababan gagamin maiyow boro anab, orot ai’in biyahine, Firis ukwarih naatu Ofafar Bai’obaiyenayah biyahine, hina’asabunu ana morob. Baise veya tounu ufunamaim morobone boro anamisir maiye.”
22 Phia-rơ mang Chúa Giê-xu riêng ra và xin Ngài đừng nói như thế. Ông bảo, “Nguyện Thượng Đế cứu Ngài khỏi cảnh khổ ấy! Những điều đó không bao giờ xảy đến cho Chúa đâu!”
22 Peter bai hin nabinamaim eo, “Regah, iti na’atube men akokok isa namatar”.
23 Nhưng Chúa Giê-xu quở Phia-rơ, “Sa-tăng kia! Hãy đi khuất mặt ta! Con chẳng giúp gì được cho ta! Con không lo nghĩ đến việc Thượng Đế mà chỉ lo nghĩ đến việc người ta thôi.”
23 Jesu tatabir Peter kwarar iu, “Au’uf kwen, Satan! O i kabay kiru nou kuyayare, anayabin o a not i men God enotanot na’atube kunotanotamih. O i orot babin hai notabe kunotanot.”
24 Rồi Ngài bảo các môn đệ, “Nếu ai muốn theo ta thì phải từ bỏ những gì mình ưa thích. Họ phải chịu gian khổ đến nỗi hi sinh tính mạng để theo ta.
24 Imaibo Jesu tatabir ana bai’ufununayah isah eo, “O yait inakok ayu airit namih, taiyuw ina kwahiri a onaf ina’abar ini’ufnunu airit tanan.
25 Người nào muốn cứu mạng sống mình thì sẽ đánh mất nó; còn ai hi sinh tính mạng vì ta, sẽ nhận được sự sống thật.
25 Anayabin orot yait taiyuwin ana yawas isan ebowabow boro nikasiy. Baise orot yait ana yawas ayu isau ebi’inuw boro natita’ur.
26 Nếu ai được cả thế gian mà mất linh hồn mình thì chẳng ích gì. Không có giá nào để chuộc linh hồn mình lại được.
26 Tafaram wanawanan sawar tutufin etei ibai aur karam, baise inamomorob ana veya ana gewasin boro inab? En anababatun. Boro men kafa’imo nati sawaramaim a yawas inatubun inab maiye’emih.
27 Con Người sẽ trở lại với vinh hiển của Cha Ngài và với các thiên sứ. Lúc ấy, Ngài sẽ thưởng cho mỗi người tùy theo việc họ làm.
27 Anayabin Orot Natun i Tamah ana fair ana bonamanamarinamaim nan, ana tounamatar kakafiyih bairi, imaibo nati ana maramaim i boro orot babin hibowabow ana fofoninamaim hai baiyan nitih.
28 Ta bảo thật, trong số những người đứng đây, có vài người sẽ được chứng kiến Con Người trở lại trong nước Ngài trước khi họ qua đời.”
28 Anababatun a tur ao’owen, sabuw afa iti kwama tur kwanonowar boro morobo’e kwanama’am Orot Natun ni’aiwob maramaim nanan kwana’itin.”
Atalhos do teclado
- Capítulo anterior←
- Próximo capítulo→
- Versículo anteriork
- Próximo versículoj
- Limpar seleçãoEsc
- Esta ajuda?
Estude este capítulo no WhatsApp
Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Mateus 16, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.