Mateus 14

Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI

Sair da comparação
AAI TUR GEWASIN O BAIBASIT BOUBUN
1 Lúc ấy, vua Hê-rốt đang cai trị miền Ga-li-lê, nghe tin đồn về Chúa Giê-xu.
1 Nati ana veya’amaim Herod tafaram Galilee ana kaifayan orot Jesu bowabow ana tur nowar.
2 Ông bảo các quan hầu cận, “Giê-xu nầy là Giăng Báp-tít sống lại từ kẻ chết nên mới có thể làm nhiều phép lạ như thế.”
2 Naatu ana orot ukwarih hai tur eowen eo, “Ni’i orot i John Baptist, morobone yawas maiye, imih fair bai nati ina’inan isisinaf.”
3 Trước đó ít lâu, Hê-rốt bắt trói Giăng, tống giam vào ngục. Hê-rốt làm như thế là vì Hê-rô-đia, trước kia vốn là vợ Phi-líp, em Hê-rốt.
3 Herod i John Baptist bai fatum in dibur yari’iy aawan Herodias baiyasisirin isan.
4 Giăng có can ngăn Hê-rốt rằng, “Lấy Hê-rô-đia là không hợp pháp.”
4 John tur fokarin maiyow Herod Herodias i tain Philip aawan bai bi’aawan isan gam iu, “O i ofafar iastu’ub tai aawan ibai i’awan.” Tur fokarin iti eo isan Herod yan bai dibur yari’iy.
5 Hê-rốt muốn giết Giăng nhưng sợ dân chúng vì ai nấy đều tin rằng Giăng là nhà tiên tri.
5 Herod kok i John ta’asabun, baise Jew sabuw isah bir, anayabin John hi’i’itin i dinab orot ta na’atube.
6 Nhân dịp sinh nhật Hê-rốt, con gái Hê-rô-đia vào nhảy múa cho Hê-rốt và các quan khách xem, vua rất thích.
6 Naatu Herod ana tufuw isan hibiyasisir ana veya’amaim, Herodias natun babitai run sabuw rou’ay gagamin nahimaim benaben, Herod itin iyasisir gagamin maiyow.
7 Nên Hê-rốt thề hứa sẽ cho cô gái bất cứ điều gì cô ta xin.
7 Naatu taiyuwin isan eo baifaro babitai eomatan eo, “Abisa kukokok boro anit?”
8 Hê-rô-đia xúi con gái nên xin cái gì. Cô gái vào thưa với Hê-rốt, “Cho con xin cái đầu Giăng Báp-tít để trên mâm tại đây.”
8 Naatu babitai hinah ana turamaim na eo, “Ayu akokok boun John Baptist ukwarin tew yan iniwan inab inan initu.”
9 Hê-rốt rất buồn, nhưng vì lỡ hứa rồi, mọi quan khách đều nghe nên Hê-rốt truyền lệnh làm theo điều cô gái xin.
9 Aiwob orot iti tur nonowar i uwan yi, baise sabuw rou’ay gagamin matahimaim eomatan, imih ana baiyowayah orot iuwih babitai ana kokok hisinaf.
10 Vua sai lính vào ngục chém đầu Giăng.
10 John dibur bar wanawananamaim ma’am hin sikan hi’afuw,
11 Rồi lính để trên mâm mang vào cho cô gái, cô gái mang đưa cho mẹ.
11 ukwarin tew yan hiwan hibai hina babitai hitin, bai in hinah itin (so’ob John i morob).
12 Các môn đệ Giăng đến lấy xác ông đem chôn rồi đi báo tin cho Chúa Giê-xu.
12 John ana bai’ufununayah hina biyan hibai hin hiyai, imaibo hin Jesu ana tur hiowen.
13 Sau khi nghe tin về việc Giăng thì Chúa Giê-xu xuống thuyền rời nơi ấy đi đến chỗ vắng vẻ một mình. Nhưng dân chúng từ các tỉnh quanh đó nghe tin liền đi tìm Ngài.
13 Jesu John ana tur nonowar ufunamaim, wa bai akisinamo efan nautanubinamaim in. Baise sabuw menamaim inan i ana tur hinowar, ababawat bar merar ta ta hirun hitit hi’ufunun hin.
14 Khi đến nơi, Ngài thấy một đám đông đang chờ. Ngài cảm thương họ và chữa lành những kẻ đau.
14 Jesu wa biyut ana veya nuwanuw sabuw rou’ay gagamin maiyow i’itih iyababan, naatu hai sabuw sawusawuwih hibow hinan etei iyayawasih.
15 Chiều xuống, các môn đệ đến thưa với Ngài, “Chỗ nầy hẻo lánh và cũng đã xế chiều rồi nên xin thầy cho họ về để họ đi vào các làng mạc gần đây mua thức ăn.”
15 Veya re birabirab auman Jesu ana bai’ufununayah hin hiu, “Veya i re sawar. Igewasin sabuw iniyafarih hinan bar merar yubinamaim bay hinatobon hinaa hinayawas.” (Anayabin iti efan i arar yan sabuw en).”
16 Nhưng Chúa Giê-xu đáp, “Họ không cần phải đi đâu cả. Các con phải cho họ ăn.”
16 Jesu iyafutih eo, “Men karam asir ana’uwih hinan. Gewasin, kwa a efanamaim bay kwana’itin kwanitih hina hinayawas.”
17 Họ thưa, “Chúng con chỉ có năm ổ bánh và hai con cá thôi.”
17 Baise hiya’afut hio, “Aki ai efanamaim rafiy fafar etei umat roun naatu siy rou’ab na’atumo ti’inu’in, men karam boro iti sabuw rou’ay gagamin anituwih.”
18 Ngài bảo, “Mang bánh và cá lại đây cho ta.”
18 Jesu eo, “Kwabow kwana kwaitu.”
19 Rồi Ngài bảo dân chúng ngồi xuống trên cỏ. Ngài cầm năm ổ bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, tạ ơn Thượng Đế, xong chia bánh ra trao cho các môn đệ để phát cho dân chúng.
19 Naatu sabuw iuwih fotan yan himare, imaibo Jesu rafiy fafar umat roun, siy rou’ab auman bow au mar nuw ra’at, God ana merar yi sawar, basit rafiy imseseb ana bai’ufununayah itih, naatu ana bai’ufununayah hibow sabuw hifaramih hi’aa.
20 Ai nấy ăn no nê. Sau đó các môn đệ lượm lại được mười hai giỏ thức ăn thừa.
20 Sabuw etei hi’aa yah iw, naatu ana bai’ufununayah bay rebareb hi’aa hi’inu’in hibow hibiwan sakasak etei 12 hiwan foten.
21 Nếu không tính đàn bà và trẻ con thì có khoảng năm ngàn đàn ông ăn bữa ấy.
21 Orot iti bay hi’aa hibiyab etei 5,000 kek babin men auman hiyabamih.
22 Sau đó Ngài liền bảo các môn đệ xuống thuyền đi trước Ngài qua bờ bên kia. Còn Ngài ở lại để cho dân chúng về.
22 Jesu matan kabiy ana bai’ufununayah iuwih wa hibai wan hirabon hin harew kukuf rewan rounane na’at. Naatu Jesu ma sabuw iyafarih hai au bar hin.
23 Khi cho họ về rồi, Ngài lên núi cầu nguyện riêng. Trời đã tối mà Chúa Giê-xu vẫn còn ở đó một mình.
23 Sabuw iyafarih hinan ufut akisinamo yen in oyawamaim yoyoban isan. Naatu nati’imaim, akisinamo ma’am mar bu’u’um.
24 Lúc ấy, thuyền đã ra cách bờ khá xa. Chiếc thuyền bị sóng đánh dữ, lại gặp gió ngược.
24 Iti ana veya’amaim ana bai’ufununayah i hire hin hikukuyowen ana veya yabat misir wa rab naatu kotar nahine na kufutih.
25 Vào khoảng ba đến sáu giờ sáng, Chúa Giê-xu đi trên mặt nước đến với các môn đệ.
25 Mar sibisib auman Jesu riy tafanamaim bat ana bai’ufununayah isah remor na.
26 Khi thấy Ngài đi trên mặt nước, họ hốt hoảng. Ai nấy sợ quá đều rú lên, “Ma đó!”
26 Riy tafan bat remor nan ana bai’ufununayah hi’i’itin ana maramaim, hai bir ra’at hio, “Iti i wagabur mowan.” Hikirir hirerey.
27 Nhưng Chúa Giê-xu liền trấn an họ, “Thầy đây mà, đừng sợ.”
27 Baise Jesu mar ta’imon eaf eo, “Men kwanabir, ayu anan.”
28 Phia-rơ thưa, “Thưa Chúa, nếu đúng là Ngài, xin cho con đi trên mặt nước đến với Ngài.”
28 Naatu Peter iya’afut eo, “Anababatun o na’at, basit ku’uwu riy tafan abat ana biya atit.”
29 Chúa Giê-xu bảo, “Hãy lại đây.” Phia-rơ bước ra khỏi thuyền, đi trên nước đến với Ngài.
29 Jesu eo, “Kuna.” Peter wa afe’en isure riy tafan bat in Jesu biyan tit.
30 Nhưng khi nhìn thấy sóng gió, Phia-rơ đâm sợ và bắt đầu chìm xuống nước. Ông kêu lên, “Chúa ơi, cứu con!”
30 Baise kotar gagamin bababin naniyan bai, ana bir ra’at, basit busuruf unun re, re’ere auman Regah isan ererey eaf eo, “Regah kwiyawasu.”
31 Chúa Giê-xu lập tức giơ tay nắm lấy Phia-rơ. Ngài hỏi, “Đức tin con quá ít. Tại sao con nghi ngờ?”
31 Jesu mar ta’imon eof nunuw uman bai iu eo, “A baitumatum men nikikimin, aisim kukakasiy.” Jesu eofere Peter uman ebaib|alt="Jesus reaching out to Peter" src="cn01722B.tif" size="col" loc="Mat 14.31" copy="©1978 David C. Cook Publishing Co." ref="14.31"
32 Sau khi Chúa bước vào thuyền thì gió lặng.
32 Naatu hairi wa tafan hiyey ana veya kotar bababin nutanub.
33 Những người trong thuyền đến bái lạy Ngài mà rằng, “Thầy thật đúng là Con Thượng Đế!”
33 Imaibo bai’ufununayah wa tafan hima’am Jesu hibora’ah hio, “O i anababatun God Natun!”
34 Sau khi băng qua hồ, họ cập bờ ở thành Ghê-nê-xa-rết.
34 Hirabon hina rewan rounane hitit naatu hin Genesaret, imaim hai wa hitain yen.
35 Khi dân chúng ở đó nhận ra Chúa Giê-xu, liền báo cho mọi người quanh vùng biết là Chúa Giê-xu đã tới cho nên người ta mang các bệnh nhân đến với Ngài.
35 Naatu nati’imaim sabuw Jesu hi’i’inan ana veya, tur hiyafar nati tafaram wanawanan bar merar gidigidihimaim, sabuw sawusawuwih etei hibow hina Jesu biyan hitit.
36 Họ chỉ xin được rờ ven áo Ngài thôi. Ai rờ đều được lành cả.
36 Naatu ana faifuw taininawat butubunin isan hifefeyan, naatu sabuw iyab ana faifuwawat hibubutubun i etei hiyawas.

Ler em outra tradução

Comparar com outra

Estude este capítulo no WhatsApp

Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Mateus 14, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.