Mateus 13
Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI
1 Cùng hôm ấy Chúa Giê-xu đi ra khỏi nhà, ngồi bên bờ hồ.
1 Nati veya ta’imon Jesu bar itumar tit na harew kukuf sisibinamaim sabuw bai’obaiyih isan mara’iy.
2 Dân chúng tụ tập quanh Ngài rất đông nên Ngài xuống thuyền ngồi, còn dân chúng thì đứng trên bờ.
2 Naatu sabuw moumurih maiyow hiru’ay hi’ar bebera’uh itih, basit wa bai inatait tafan mare, sabuw baise dones yan himarir hima.
3 Chúa Giê-xu dùng ngụ ngôn dạy họ nhiều điều. Ngài kể: “Có một nông gia kia đi ra gieo giống.
3 Imaibo ma sawar moumurih na’in oroubonamaim eo hima hinowar. Naatu ana oroubon ta i iti na’atube eo, “Ana veya ta orot masaw bowayan ana ub tanumamih tit in.
4 Trong khi gieo, một số hột rơi bên đường đi, chim đáp xuống ăn hết.
4 Ana ub afa tata’asiyen i ef yanamaim hire, naatu mamu hire hibow hi’aa,
5 Một số rơi trên đất đá, có rất ít đất thịt. Hột giống ấy mọc lên mau vì có ít đất cạn.
5 Ana ub afa i to’ato yan hire’ere ana kamar men gagamin imih saisewat hikubounih hiyen. Anayabin kamar baban i fokarin.
6 Nhưng khi mặt trời mọc lên thì cây non chết héo vì rễ không sâu.
6 Baise veya yey ana mar wabuburinamaim ub etei hi’arat, naatu hikimow hire anayabin wairoroh men babanika hire.
7 Một số hột rơi vào đám cỏ gai, gai mọc lên chèn ép cây non.
7 Ub afa kokor wanawanan hire, naatu kokor ana fafa’amaim isuken.
8 Một số hột rơi trên đất tốt, mọc lên và sinh hoa quả nhiều. Có cây ra một trăm hột, có cây sinh ra sáu chục, có cây sinh ra ba chục.
8 Naatu ub afa i me gewasin yan hire hikuboubunih hiyen gewas ro’oro’oh hiya, afa hibiw 100 na’atube, afa i 60 na’atube, afa i 30 na’atube.
9 Ai có tai để nghe, hãy nghe cho kỹ.”
9 Imih o yait tain nama’am tur inanowar.”
10 Các môn đệ đến hỏi Chúa Giê-xu, “Sao thầy dùng ngụ ngôn để dạy dân chúng?”
10 Naatu Jesu ana bai’ufununayah hina hibatiy hi’o, “Aisim oroubonamaim sabuw kubi’obaiyih?”
11 Ngài đáp, “Các con đã được đặc ân để hiểu biết các điều bí ẩn về Nước Trời nhưng những người khác thì không được đặc ân ấy.
11 Jesu iyafutih eo, “Orereb ana so’ob wa’iwa’irin mar ana aiwob isan i God kwa it, men iti sabuw itihimih.
12 Ai có trí hiểu sẽ được cho thêm để họ có dư, nhưng ai không hiểu biết thì sẽ bị lấy luôn những gì họ có nữa.
12 Imih orot yait orereb ana so’ob biyan ema’am, God boro tafan naya’abar nitin ana so’ob nara’at, baise orot yait nati so’ob men biyan ema’am naatu ana so’ob kikimin nati biyanamaim ema’am God boro nabosair.
13 Ta dùng ngụ ngôn để dạy họ vì họ nhìn mà không thấy, nghe mà không hiểu.
13 Ana’an nati ayu oroubonamaim sabuw abi’obaiyih.
14 Như thế để lời nhà tiên tri Ê-sai đã viết về họ được thành tựu:
14 Dinab orot Isaiah ana Bukamaim eo kikirum i na ibiturobe.
15 Vì trí óc dân nầy
15 Anayabin ukwarih fokar,
16 Nhưng các con có phúc vì mắt các con thấy được, tai các con nghe được.
16 Baise Kwa i kwabiyasisir, anayabin matayan kwa’i’itin naatu tain yan tur kwanonowar.
17 Ta bảo thật, nhiều nhà tiên tri và những người nhân đức muốn thấy điều các con hiện đang thấy, mà không được. Họ muốn nghe điều các con hiện đang nghe cũng không được.
17 Anababatun a tur ao’owen, dinab orot moumurih na’in naatu sabuw gewasih hikok kwanekwan, kwa abisa kwa’i’itin i hita’itin naatu abisa kwanonowar i hitanowar. Baise nati ana maramaim sawar men matar boro hita’itin.”
18 Các con hãy nghe ý nghĩa của ngụ ngôn về nông gia.
18 “Tain kwanarub ub tanumayan ana oroubon ao kwananowar naniyan kwanab, yabin kwanaso’ob.
19 Hột giống rơi bên đường đi nghĩa là gì? Hột ấy như người nghe dạy về nước thiên đàng mà không hiểu. Kẻ Ác liền đến cướp lấy hột đã trồng trong lòng họ.
19 Sabuw iyab mar ana aiwob isan Tur Gewasin ao tenonowar naatu naniyan men tabaib i ub ef yanamaim orot ta’asiy re’er na’atube, Tur Gewasin tenonowar ana maramaim demon kakafin ena hai not ebikwaris.
20 Còn về hột giống rơi nhằm chỗ đất đá thì sao? Hột ấy giống như người nghe lời dạy liền vui nhận.
20 Naatu orot ana ub afa to yan hire’ere ana itinin i sabuw iyab tur tenonowar ana maramaim i tibiyasisir.
21 Nhưng người ấy không để lời dạy ăn sâu vào trong lòng. Chỉ giữ một thời gian ngắn thôi. Khi khó khăn và bạo hành xảy đến do lời dạy thì họ liền bỏ cuộc.
21 Baise dogoroh wanawanan nati ub wairoron i men re eof barur, imih Tur Gewasin isan hina’uwih hinarurukaukuwih boro mar ta’imonamo hai baitumatum hinihamiy.
22 Còn hột giống rơi nhằm cỏ gai nghĩa là gì? Hột ấy giống như người nghe đạo nhưng lại để những lo âu đời nầy và cám dỗ của giàu sang cản trở khiến lời dạy không nẩy nở và kết quả được trong đời sống người ấy.
22 Naatu orot ana ub afa fotan wanawanan hire’er ana itinin i sabuw iyab tur tenonowar, baise iti tafaram ana yasisir isan tibiyababan naatu totobuyoy hai not ebikwaris imih tur ana ro’on men emamatar.
23 Còn về hột giống rơi trên đất tốt là gì? Hột ấy giống như người nghe đạo và hiểu nên kết quả, một hột ra một trăm, sáu chục hoặc ba chục.”
23 Baise orot ana ub me gewasin yan ta’asiy hire’ere ana itinin i sabuw iyab Tur Gewasin tenowar naatu naniyan tabai tiw tehahamu, afa ro’oh 100, afa 60, afa 30.”
24 Chúa Giê-xu lại kể một ngụ ngôn khác: “Nước Trời giống như người kia gieo giống tốt trong ruộng mình.
24 Jesu oroubon tabo iti na’atube eo, “Mar ana aiwob i iti na’atube, ana veya ta orot ana ub bow in ana masawamaim tanum.
25 Đêm ấy, trong khi mọi người đang ngủ, thì kẻ thù đến gieo cỏ dại giữa đám lúa mì rồi bỏ đi.
25 Baise gugumin sabuw etei hi’inu’in ufut, orot ana rakit mowan fotan kakafih bow na sanabey wanawanah tanum naatu bihir.
26 Khi lúa mì nẩy mầm và bắt đầu sinh hột, thì cỏ dại cũng xuất hiện.
26 Sanabey hikuboubunih hiyey wanawanahimaim fotan kakafih auman hikubounih bairi hiyen.
27 Các đầy tớ đến hỏi, ‘Có phải chủ đã gieo giống tốt trong ruộng không? Vậy cỏ dại ở đâu mà ra?’”
27 “Orot ana bowayah hina hio, ‘Regah, o ub gewasih a masawamaim itanum, baise aisim fotan kakafih auman hikuboubunih teyey?’
28 Người chủ đáp, “Kẻ thù đã làm chuyện đó.”
28 “Orot iyafutih eo, ‘Rakit sabuw afa hisinaf.’ Naatu akir wairafih hibatiy hio, ‘Bo kukokok anan fotan ana uyarir?’
29 “Người chủ đáp, ‘Đừng. Vì khi các ngươi nhổ cỏ dại rất có thể các ngươi vô tình nhổ luôn lúa mì.
29 “Orot iyafutih eo, ‘En. Fotan kakafih kwana’u’uyarir boro sanabey afa auman kwana’uyarir.
30 Hãy để cỏ dại và lúa mì cùng lớn lên cho đến mùa gặt. Lúc ấy ta sẽ bảo mấy người làm công: Hãy nhổ hết cỏ dại trước, bó lại rồi đốt đi. Sau mới gặt hết lúa mì mang vào kho ta.’”
30 Imih kwaihamiyih bairi hinayen hiniw naatu tarin ana veya boro tarayah aniyafarih hinan, fotan wan hinatar hinafatum hinabow hinan hina’afusar, imaibo sanabey hinatar hinabow hinan bar hinaya.’”
31 Chúa Giê-xu lại kể một ngụ ngôn nữa: “Nước Trời giống như một hột cải mà người kia trồng trong ruộng.
31 Jesu ana oroubon tabo eo, “Mar ana aiwob ana itinin ta i iti na’atube, orot ana ai momor ro’on kikimin maiyow bai in ana masaw yan tanum.
32 Hột đó nhỏ nhất trong các hột giống, nhưng khi mọc lên nó trở thành một trong những cây lớn nhất trong vườn. Cây đó lớn và sum suê đến nỗi chim trời làm tổ trong nhánh nó được.”
32 Iti ai ro’on i men ai ro’on afa gagamih na’atube’emih, baise tanum kuboun yey ana veya’amaim ra’at ai gagamin na’in matar naatu mamu hina famefamenamaim hibatar hima.”
33 Ngài kể tiếp một ngụ ngôn nữa: “Nước Trời giống như men mà người đàn bà nọ trộn trong một thau bột lớn cho đến chừng cả đống bột đều dậy lên.”
33 Jesu iban oroubon tabo eo maiye, “Mar ana aiwob itinin ta i iti na’atube. Babin yeast ebai ana faraw wanawanan eyai ekamat inu’in era’at eyey na’atube.”
34 Chúa Giê-xu dùng ngụ ngôn để dạy dỗ dân chúng; Ngài luôn luôn dùng ngụ ngôn để dạy họ.
34 Jesu sawar iti etei isah i oroubonamaim eo sabuw rou’ay gagamin bi’obaiyih; ana bai’obaiyenamaim i mar etei oroubonamaim sabuw bi’obaiyih.
35 Đúng như lời nhà tiên tri đã nói:
35 Iti na’atube sisinaf anayabin abisa dinab orot eo kikirum tan titurobe isan.
36 Chúa Giê-xu rời quần chúng đi vào nhà. Các môn đệ đến hỏi Ngài, “Xin thầy giải thích cho chúng con ý nghĩa về ngụ ngôn cỏ dại trong ruộng.”
36 Jesu sabuw rou’ay ihamiyih naatu na bar wanawanan run, ana bai’ufununayah ufun hina hirun hibatiy hio, “Masaw yan fotan kakafin ana oroubon i kukubuna anowar.”
37 Chúa Giê-xu đáp, “Người gieo giống tốt trong ruộng là Con Người.
37 Jesu iyafutih eo, “Orot ub gewasih tatanum i Orot Natun.
38 Ruộng là thế gian, và giống tốt là tất cả những con cái của Thượng Đế thuộc về nước thiên đàng. Cỏ dại là những người của Kẻ Ác.
38 Masaw ana itinin i tafaram, naatu ub gewasin i sabuw iyab mar ana aiwob isan tebowabow, naatu ub kakafin i Demon Kakafin natunatun.
39 Còn kẻ thù gieo cỏ dại là ma quỉ. Mùa gặt là ngày tận thế, những thợ gặt là các thiên sứ.
39 Naatu rakit orot ub kakafin bai na masaw yan tatanum i Demon Mowan. Naatu masaw biyamur i mar yomanin na’atube, masaw fourayah i God ana tounamatar.
40 Cỏ dại bị nhổ lên để đốt trong lửa ra sao thì ngày tận thế cũng như vậy.
40 “Imih mar yomanin iti ub kakafih hi’uyarir hifatum hibow hin hi’a’afusar na’atube boro namatar.
41 Con Người sẽ sai các thiên sứ Ngài gom lại, từ trong nước Ngài, những người gây ra tội lỗi và những kẻ làm ác.
41 Orot Natun boro ana tounamatar niyafarih hinatit, sinaf kakafih naatu sabuw iyab bowabow kakafin kura’ahih hima kakafih tisisinaf etei i ana aiwob wanawananamaim boro fotan kakafin na’atube hinatar hinafatum.
42 Các thiên sứ sẽ ném họ vào lò lửa hực, nơi đó họ sẽ khóc lóc và nghiến răng vì đau đớn.
42 Naatu hinabow hinan wairaf wan hinaya hina’afusar, nati’imaim boro na’arahih wah takitak niwa’an hina’in hinarerey.
43 Lúc bấy giờ người nhân đức sẽ sáng chói như mặt trời trong nước của Cha mình. Ai có tai để nghe, hãy nghe cho kỹ.”
43 Imaibo God ana sabuw gewasih nabow mar ana aiwobomaim hinarun veya na’atube hinararan. Imih o yait tain nama’am iti tur inanowar.
44 “Nước Trời giống như một kho báu chôn trong một thửa ruộng. Một hôm có người tìm được liền giấu lại trong ruộng. Anh mừng quá liền về nhà bán hết tài sản để mua thửa ruộng đó.
44 “Mar ana aiwob itinin ta i iti na’atube, orot ta nugunug hibun inu’in itin bai, naatu me nati nugunug titita’urimaim kair maiye ibun, naatu yasisir auman in ana sawar etei sabuw hitobon naatu matabir maiye na nati me tutubun na’atube.
45 Nước Trời cũng giống như một thương gia kia đi tìm viên ngọc trai quí.
45 “Naatu mar ana aiwob itinin tabo iti na’atube. Orot sawar tobonayan wakek enunuwet na’atube.
46 Khi tìm được rồi, liền về bán hết tài sản để lấy tiền mua viên ngọc trai ấy.
46 Wakek nuwet inan wakek ta gewasin ana baiyan gagamin na’in tita’ur, naatu na ana sawar etei yataiten hitobon kabay bai in nati wakek tutubun na’atube.
47 Nước Trời giống như lưới thả xuống hồ bắt đủ mọi thứ cá.
47 “Iban maiye mar ana aiwob i buwat na’atube. Orot siy bowayan ana buwat eya ema’am siy i yumatah ta ta te’ona’on.
48 Khi lưới đầy rồi thì người đánh cá kéo lên bờ. Họ ngồi lại lựa cá tốt bỏ vào giỏ còn cá xấu thì ném đi.
48 Naatu buwat awan ekakaratan ana veya etab erun dones yan ema siy gewasih ikiyarir fetan iwan, naatu kakafih ikiyarir ebow ebis rouruwen na’atube.
49 Ngày tận thế cũng như vậy. Các thiên sứ sẽ đến phân chia kẻ ác và người thiện ra.
49 Imih mar yomanin nanan itinin i boro nati na’atube. God boro ana tounamatar niyafarih hinatit hinan sabuw gewasih wanawanahimaim sabuw kakafih hinabow
50 Các thiên sứ sẽ ném những kẻ ác vào lò lửa hực nơi có khóc lóc và nghiến răng vì đau đớn.”
50 wairaf wan hiyara’aten na’arahih hina’in hina rerey wah takitak niwa’an.”
51 Chúa Giê-xu hỏi các môn đệ, “Các con có hiểu mọi điều nầy không?”
51 Jesu ibatiyih eo, “Oroubon iti ao’oban naniyah kwabow?” Ana bai’ufununayah hiya’afut hio, “Naniyah abow.”
52 Rồi Ngài bảo họ, “Giáo sư luật nào được dạy về Nước Trời cũng giống như một chủ nhà kia đem hết những đồ mới và cũ đã để dành lâu năm ra ngoài.”
52 Naatu Jesu iuwih eo, “Isan imih, ofafar bai’obaiyenayan orot yait mar ana aiwob isan bai’obaiyen hibitin i bar matuwan matar, imih nati bar wanawanan ana sawar boubuh naatu atamanih etei boro nayataiten.”
53 Sau khi Chúa Giê-xu dạy xong thì Ngài rời nơi đó
53 Jesu iti oroubon eo hinonowar ufunamaim nati efan itumar,
54 trở về quê quán và dạy dỗ trong hội đường. Dân chúng rất kinh ngạc. Họ hỏi nhau, “Ông nầy học ở đâu và lấy quyền nào mà làm những phép lạ nầy?
54 naatu remor na i ana bar meraramaim tit Kou’ay Bar ta wanawanan run, busuruf sabuw i’obaibiyih. Naatu sabuw hima hinonowar hifofor hio, “Iti orot ana ukwar rerekab naatu ina’inanen sinaf isan ana fair i menamaim bow?
55 Ông ta có phải là thợ mộc không? Có phải mẹ ông là Ma-ri và anh em ông là Gia-cơ, Giô-xép, Xi-môn và Giu-đa không?
55 Iti orot tamah i bar wowabayan naatu hinah i Mary naatu James, Joseph, Simon, Judas i taitin.
56 Có phải các chị em ông ta đang sống ở giữa chúng ta đây sao? Ông ta lấy quyền phép ở đâu mà làm được những điều nầy?”
56 Naatu taitin baibitar auman bairit iti tama’am, imih iti sawar etei i menamaim bow?”
57 Nên họ ngần ngại không chịu tin Ngài.
57 Iti na’atube hio hina’ufut hin. Jesu iuwih eo, “Dinab orot tafaram afa’amaim i tekakafiy, baise i ana bar meraramaim naatu i tain tuwan i men tekakafiy.”
58 Ở đó Ngài không làm nhiều phép lạ vì họ chẳng có lòng tin.
58 Naatu nati’imaim men ina’inan moumurih sinafumih, anayabin nati sabuw aurih baitumatum en.
Atalhos do teclado
- Capítulo anterior←
- Próximo capítulo→
- Versículo anteriork
- Próximo versículoj
- Limpar seleçãoEsc
- Esta ajuda?
Estude este capítulo no WhatsApp
Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Mateus 13, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.