Marcos 9

Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI

Sair da comparação
AAI TUR GEWASIN O BAIBASIT BOUBUN
1 Rồi Chúa Giê-xu bảo họ, “Ta bảo thật, một số người đứng đây sẽ không nếm cái chết trước khi Nước Trời hiện đến trong quyền uy.”
1 Jesu sabuw iuwih eo, “Turobe a tur ao’owen kwa afa iti kwama’am boro morobo’e yawas kwanama’am maramaim God ana aiwob fairin boro nanan kwana’itin.”
2 Sáu ngày sau, Chúa Giê-xu đem Phia-rơ, Gia-cơ và Giăng đi riêng lên một ngọn núi cao. Ngài biến hóa trước mắt họ.
2 Veya etei six sasawar ufunamaim Peter, James naatu John, Jesu buwih bairi akisihimo hiyen hin oyaw tafantoro’ot hitit. Nati’imaim matah yan hi’itin Jesu ana yumat botabir.
3 Áo quần Ngài đang mặc bỗng trở nên sáng trắng, đến nỗi không ai có thể làm trắng như thế được.
3 Naatu ana faifuw hina hikwes anababatun, men karam tafaramamaim orot babin ta na’atube tasouwen hitikwes.
4 Bỗng có Ê-li và Mô-se hiện ra nói chuyện với Ngài.
4 Nati’imaim Elijah, Moses hairi hirerereb Jesu bairi hibat hio’o bai’ufununayah nah tounu hi’itih.
5 Phia-rơ thưa với Ngài, “Thưa thầy, chúng ta ở đây thật tuyệt. Chúng ta hãy dựng ba cái lều—một cái cho thầy, một cái cho Mô-se và một cái cho Ê-li.”
5 Peter Jesu isan eo, “Regah aki bairi tanan i gewasin maiyow, aki boro sis tounu ana wowab, ta o isa, ta Moses isan, naatu ta Elijah isan.”
6 Phia-rơ chẳng biết mình nói gì vì ông và các đồng bạn quá khiếp sợ.
6 Nah tounu hai bir ra’at Peter tur erekasiy auman eo kwanekwan.
7 Có một đám mây bay đến bao phủ mọi người. Từ trong đám mây có tiếng vọng ra, “Đây là Con ta yêu dấu. Hãy nghe theo người!”
7 Naatu sakuk earuw na ana youninamaim tarsumih naatu sakuk wanawanan orot fanan hinowar eo, “Iti i ayu Natu au yabow, tain kwanarub nao kwananowar!”
8 Bỗng nhiên Phia-rơ, Gia-cơ và Giăng nhìn quanh quất thì chỉ thấy có một mình Chúa Giê-xu mà thôi.
8 Naatu matah doda iwa’an hibat hibinuwanuw men yait ta hi’itin, baise Jesu akisinamo bairi hibatabat hi’itin.
9 Khi đang xuống núi, Ngài dặn họ không được kể cho ai nghe về việc họ vừa thấy cho đến khi Con Người sống lại từ trong vòng kẻ chết.
9 Oyawane hire hinan auman abisa hi’itin isan Jesu tur fokarin maiyow eofafarih eo, “Men yait ta ana tur kwana’owen kwanama’am Orot Natun morobone namisiribo.”
10 Vì thế các môn đệ giữ kín những điều ấy trong lòng, nhưng họ bàn luận với nhau không hiểu Ngài nói sống lại từ kẻ chết nghĩa là gì.
10 Jesu abistan eo i fanan hibai, baise morobone misir maiye eo anayabin hikasiy taiyuwih hima hibabatiyih.
11 Họ hỏi Ngài, “Tại sao các giáo sư luật bảo là Ê-li phải đến trước?”
11 Imaibo Jesu hibatiy, “Aisim Ofafar bai’obaiyenayah hio Elijah i boro wan nan?”
12 Chúa Giê-xu đáp, “Họ nói đúng, Ê-li phải đến trước để chuẩn bị mọi việc. Nhưng tại sao Thánh Kinh bảo là Con Người phải chịu khổ nhiều, bị gạt bỏ và khinh miệt?
12 Jesu iyafutih eo, “Kwanaso’ob Elijah i wan Roubininenayan orot aunan i’iyon na sawar etei yabuna, baise aisimamih Bukamaim hikikirum hio, ‘Orot Natun nanan i boro hinakwahir naatu bai’akir gagamin na’in nab.’
13 Ta cho các con biết là Ê-li đã đến rồi, nhưng người ta đối xử với ông ấy theo điều họ muốn đúng như lời đã viết về ông.”
13 Baise a tur ao’owen, Elijah i marasika na naatu sabuw hai kokomaim yawas kakafin maiyow isan hisinaf mi’itube Bukamaim eo na’atube.”
14 Khi Ngài trở lại với các môn đệ kia, thì thấy một đám đông vây quanh và các giáo sư luật đang tranh luận với họ.
14 Hire hinan ana bai’ufununayah afa bairi hibita’imon ana veya sabuw hiru’ay hi’a’ar bebera’uh hi’itih. Naatu Ofafar bai’obaiyenayah afa auman hina hibusuruf bairi higam.
15 Vừa thấy Chúa Giê-xu, đám đông vô cùng ngạc nhiên, nên chạy lại để chào mừng Ngài.
15 Sabuw hiru’ay Jesu hi’i’itin ana veya hifofofor men kafaita naatu hinunuw hin hibai ana merar hiyi.
16 Chúa Giê-xu hỏi, “Các ông tranh luận với họ về việc gì thế?”
16 Jesu ana bai’ufununayah ibatiyih, “Abistan isan bairi kwagamigam?”
17 Một người đáp, “Thưa thầy, tôi mang con tôi đến cho thầy. Nó bị quỉ ám khiến nó không nói được.
17 Orot ta kou’ay wanawanan iya’afut eo, “Bai’obaiyenayan ayu au kek abai ana o isa, anayabin afiy kakafin iwanasum awan bofafaren tur men eo’omih.
18 Khi quỉ hành thì vật nó té xuống đất. Rồi nó sùi bọt mép, nghiến răng, người cứng đơ lại. Tôi đã xin các môn đệ thầy đuổi quỉ ra mà họ không làm được.”
18 Naatu afiy kakafin kaun eyey ana veya ebai erouw me yan ere awan fusifusin ekubar naatu wan eyob takitak tebiwa’an naatu an uman etei’imak tewowofaf. Ayu a bai’ufununayah afiy kakafin nuninamih auwih, baise men karam hitasinaf.”
19 Chúa Giê-xu đáp, “Nầy thế hệ vô tín, ta phải ở với các ông trong bao lâu nữa? Ta phải chịu đựng các ông trong bao lâu nữa? Mang nó đến đây cho ta.”
19 Jesu iuwih eo “Kwa iti boun ana sabuw ayu men kwabitutumu, mar boro bai’ab bairi tanama? Ayu boro men manin kwa bairit tanama tanabow? Kek kwabai kwana aitin.”
20 Họ mang cậu bé đến. Vừa khi thấy Ngài, quỉ vật cậu bé khiến nó té lăn nhào xuống đất, miệng sùi bọt mép.
20 Kek hibai hina Jesu biyan hitit, afiy kakafin nuw Jesu i’itin ana veya kek busuruf an uman duduwar rab naatu me yan re rab firur awan fusifusin kubar.
21 Chúa Giê-xu hỏi người cha, “Nó bị thế nầy bao lâu rồi?”
21 Jesu kek tamah ibatiy, “Iti kek sawow maninaka bai ma?” Tamah iya’afut eo, “Tasiyar ana mareika sawow bai,
22 Nhiều lúc quỉ xô nó vào lửa hoặc xuống nước để giết nó. Nếu thầy có thể làm được gì cho nó, xin thầy thương mà cứu giúp chúng tôi.”
22 matan fufur asabuninamih ebai en wairaf wan eyey naatu harew yan ere’er, baise o baiyawasin isan isa nakakaram na’at basit kwiwanbabanu baibais kwiti.”
23 Chúa Giê-xu bảo người cha, “Ông nói, ‘Nếu thầy có thể!’ Người nào tin thì việc gì cũng có thể được.”
23 Jesu iya’afut eo, “Karam, o inabitumatum na’at sawar etei o isa boro hamehameh maiyow hinamatar.”
24 Lập tức người cha kêu lên, “Tôi tin! Xin giúp tôi thắng lòng vô tín của tôi!”
24 Kek tamah mar ta’imonamo iya’afut eo, “Ayu abitumatum baise kwibaisu au baitumatum tafan kuya’abar era’at.”
25 Khi Chúa Giê-xu thấy đám đông đổ xô lại, Ngài liền quở ác quỉ, “Này, quỉ làm cho người không nghe và không nói được, ta bảo mầy phải ra khỏi cậu bé nầy, không được phép nhập vào nó nữa!”
25 Jesu sabuw i’itih i hina yaten hiyey, imih Jesu afiy kakafin isan tur fokarin maiyow eaf iu, “O afiy tain gugurin awa gugin au’uwi kek biyanamaim kwihamiy kutit naatu men ina’intabir inarun maiye!”
26 Quỉ rú lên một tiếng, vật cậu bé xuống đất, rồi ra khỏi. Đứa bé nằm cứng đơ như người chết nên nhiều người bảo, “Nó chết rồi!”
26 Afiy kakafin iwow itarakouw kek busuruf an uman duduwar rab, naatu afiy kakafin rauwatait bihir kek re imamayay in, naatu sabuw hinot i morob hirouw.
27 Nhưng Chúa Giê-xu cầm tay đỡ nó đứng dậy.
27 Baise Jesu na ofere kek uman bai ibais imisiruw misir.
28 Khi Chúa Giê-xu vào nhà, các môn đệ hỏi riêng Ngài, “Tại sao chúng con không đuổi được quỉ ấy?”
28 Nati ufunamaim Jesu bar wanawanan run naatu ana bai’ufununayah wa’iwa’iramaim hibatiy, “Aisim aki afiy kakafin men anun titamih?”
29 Ngài đáp, “Loại quỉ nầy phải cầu nguyện mới đuổi được.”
29 Jesu iyafutih eo, “Men abistanamaim boro sawar iti na’atube hinamataramih, baise yoyoban akisinamo.”
30 Rồi Chúa Giê-xu cùng các môn đệ rời nơi đó, băng qua miền Ga-li-lê. Ngài không muốn ai biết Ngài ở đâu
30 Jesu ana bai’ufununayah bairi nati efan hihamiy, i hibusuruf Galilee wanawanan hiremor hin. Jesu men kok sabuw etei hitaso’ob i menamaim hinan.
31 vì Ngài cần dạy dỗ các môn đệ. Ngài bảo họ, “Con Người sẽ bị giao vào tay dân chúng, rồi họ sẽ giết Ngài. Sau ba ngày, Ngài sẽ sống lại từ kẻ chết.”
31 Anayabin i ana bai’ufnunenayah bi’obaibiyih. Naatu ana bai’obaiyenamaim iuwih eo, “Orot Natun boro hinabonawiy gawan umahimaim hinayai naatu hina’asabun namorob, veya tounu ufunamaim boro namisir maiye.”
32 Nhưng các môn đệ không hiểu Ngài nói gì mà lại sợ không dám hỏi.
32 Bai’ufnunenayah iti tur bi’obaiyih naniyan men hibai naatu baibatiyin isan hibir.
33 Chúa Giê-xu cùng các môn đệ đến thành Ca-bê-nâm. Sau khi vào nhà, Chúa Giê-xu hỏi họ, “Lúc nãy đi đường các con tranh luận với nhau về việc gì vậy?”
33 Imaibo hina Capernaum hitit, naatu hirun bar wanawanan hima’am Jesu ibatiyih, “Efamaim tanan kwa abisa isan kwagamigam?”
34 Nhưng các môn đệ không dám trả lời, vì trên đường họ đã cãi nhau xem ai trong vòng họ là người lớn nhất.
34 Baise fanan men hiya’afutimih, anayabin efamaim hinan i taiyuwih higam yait i orot gagamintoro’ot.
35 Ngài ngồi xuống, gọi cả mười hai người lại, dạy rằng, “Ai muốn làm người lớn nhất phải là người thấp kém nhất, làm đầy tớ mọi người.”
35 Jesu mare ana bai’ufnunenayah nah 12 eafih hina biyan hitit naatu iuwih eo, “Yait wan bai’iyonamih, i taiyuwin boro nan uftoro’ot nabat, sabuw etei’imak isah ni’akir nabow.”
36 Rồi Ngài dắt một em nhỏ lại đặt giữa họ. Bồng em nhỏ trong tay, Ngài dạy,
36 Naatu kek bai na nahimaim iu bat, uman kek tuwabunamaim rauwabon naatu eo,
37 “Người nào nhân danh ta tiếp một em nhỏ như thế nầy tức là tiếp ta. Còn ai tiếp ta tức là tiếp Đấng phái ta đến.”
37 “O yait ayu wabu’umaim kek gidigidih inabuwih hai merar inayiy, ayu au merar kuyiy, naatu o yait ayu au merar kuyiy, men ayu akisu au merar kuyiy baise yait ayu iyunu anan auman ana merar kuyiy.”
38 Bấy giờ Giăng lên tiếng, “Thưa thầy, chúng con thấy có người nhân danh thầy để đuổi quỉ ra. Chúng con cấm ngay vì người ấy không cùng nhóm với chúng ta.”
38 John eo, “Bai’obaiyenayan aki orot ta o wabimaim wagabur kakafih nununih ai’itin naatu a’otan, anayabin i men it ata kou’ay orot ta’amih.”
39 Nhưng Chúa Giê-xu bảo, “Đừng cấm làm gì, vì không ai có thể vừa nhân danh ta làm phép lạ vừa nói xấu ta được.
39 Jesu iya’afut eo, “Orot men kwana’otanimih! Orot yait ayu wabu’umaim ina’inan nati na’atube esisinaf boro men karam nati bowabow ufunamaim ayu isau tur kakafih na’omih,
40 Ai không chống chúng ta tức là về phía chúng ta.
40 anayabin orot babin yait men it isat ibiwosai, nati it nowat.
41 Ta bảo thật, ‘Người nào cho các con một ly nước uống vì các con là người của Chúa Cứu Thế, người ấy chắc chắn không mất phần thưởng của mình đâu.’
41 Anababatun a tur o’owen, orot babin yait ayu wabu’umaim o harew it kutomatom anayabin o i ayu nowau, i turobe ana baiyan boro nab.
42 Nếu ai gây cho một trong các em nhỏ nầy, đã tin ta mà phạm tội thì nên lấy tảng đá lớn buộc vào cổ người ấy, quăng xuống biển cho chết chìm còn hơn.
42 Naatu ayu au bai’ufununayah hai baitumatum kikimin, orot yait nan hai not nabi’afiy, gewasin nati orot i boro sikan aumor hita’utan taiyan hititaiy tare.
43 Nếu tay xui cho các con phạm tội, hãy chặt nó đi! Chẳng thà mất một phần thân thể mà được sống đời đời còn hơn đủ cả hai tay mà bị ném vào hỏa ngục, là nơi lửa không hề tắt.
43 O uma nabonawiy bowabow kakafin inasisinaf na’at, ku’afuw kwisaroun! Uma rounawat ma’ama wanatowanamaim inarur i gewasin, men basit uma rou’abaka itan efan kakafin wairaf wanatowan wan itayen,
44 — ausente —
44 motamot hita’ani naatu wairaf wanatowan in etoto’ab ta’arahi.
45 Còn nếu chân xui cho các con phạm tội, hãy chặt nó đi! Vì chẳng thà mất một phần thân thể mà được sống đời đời còn hơn đủ cả hai chân mà bị ném vào hỏa ngục.
45 Naatu a nabonawiy bowabow kakafin inasisinaf na’at, ku’afuw kwisaroun! A dubon ma’ama wanatowanamaim inarur i gewasin, men basit a rou’abaka inan efan kakafin,
46 — ausente —
46 motamot hina’aani naatu wairaf wanatowan in etoto’ab na’arahi.
47 Nếu mắt xui cho các con phạm tội, hãy móc nó đi! Chẳng thà mất một mắt mà được vào Nước Trời, còn hơn đủ cả hai mắt mà bị ném vào hỏa ngục.
47 Naatu mata nabonawiy bowabow kakafin inasisinaf na’at, kukubai kwisaroun! Mata ta’imon God ana aiwobomaim inarur i gewasin, men basit mata rou’abaka hinisrouni efan kakafinamaim inare,
48 Hỏa ngục là nơi sâu bọ không hề chết, lửa không hề tắt.
48 nati’imaim
49 Mọi người sẽ bị muối bằng lửa.
49 Sabuw etei’imak boro wairafamaim na’arahih narusouwih hinan riyabe hinamatar.
50 Muối dùng được nhiều việc, nhưng nếu nó mất vị mặn đi thì làm sao cho nó mặn lại được? Cho nên các con phải có bản chất như muối và phải ăn ở hòa thuận với nhau.”
50 Riy i gewasin baise naniyan nabi’en boro men karam hiniwa’an naniyan namatar maiye, imih kwa i riy wanawanamaim nama, saise taituwa bairi boro tufuwamaim kwanama.”

Ler em outra tradução

Comparar com outra

Estude este capítulo no WhatsApp

Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Marcos 9, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.