Marcos 7

Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI

Sair da comparação
AAI TUR GEWASIN O BAIBASIT BOUBUN
1 Các người Pha-ri-xi và một số giáo sư luật từ Giê-ru-sa-lem đến họp chung quanh Chúa Giê-xu.
1 Pharisee naatu Ofafar bai’obaiyenayah afa Jerusalemane hinan hina Jesu hibebera’uh.
2 Họ thấy mấy môn đệ của Ngài dùng tay không sạch, nghĩa là chưa rửa, để ăn.
2 Naatu ana bai’ufununayah umah souwena’e eregubagub auman hi’aa hitomatom hi’itih.
3 Người Pha-ri-xi và tất cả người Do-thái không bao giờ ăn trước khi rửa tay, như luật truyền miệng của họ đã qui định.
3 Pharisee naatu Jew sabuw etei’imak i hai binanakwar ti’ufunun hai a’agir hi’o na’atube umah tesouwenabo te’aau.
4 Còn khi mua đồ ở chợ về, nếu chưa rửa đúng cách, họ cũng không ăn. Họ còn giữ nhiều truyền thống khác về cách rửa ly chén, bầu nước và nồi niêu.
4 Ahar efanane tenan boro men abistan hina’aan, baise wantoro’ot i boro hinakif nakusouwih, naatu hai binanakwar afa maumurih maiyow tebi’ufunun, boun kerowas, naukwat, ya’aya baibitab ana noukwat, i na’atube tesasouwen.
5 Người Pha-ri-xi và các giáo sư luật thưa với Chúa Giê-xu, “Tại sao các môn đệ thầy không giữ truyền thống của người xưa mà dùng tay không sạch để ăn?”
5 Imih Pharisee naatu Ofafar bai’obaiyenayah Jesu hibatiy, “Aisimamih o abai’ufununayah bai’obaiyen it ata a’agir hibai nan men tibi’ufununimih, naatu baise i umah gubagub auman te’aau?”
6 Chúa Giê-xu đáp, “Nhà tiên tri Ê-sai viết rất đúng về các ông là những kẻ đạo đức giả:
6 Iyafutih eo, “Isaiah kwa arerekabih isan eo i turobe, Bukamaim eo kikirum na’atube,
7 Lối thờ kính của họ thật vô ích.
7 I hai kwafiren ayu isau i yabin en,
8 Các ông không theo những mệnh lệnh của Thượng Đế mà chỉ theo lời dạy của con người.”
8 Kwa God ana obaiyunen kwabosair sa’ab kwayai naatu orot hai bai’obaiyen kwabai kwabukikin kwanan.”
9 Rồi Chúa Giê-xu bảo họ, “Các ông khôn khéo ném bỏ mệnh lệnh của Thượng Đế để tuân theo những truyền thống của mình.
9 Naatu Jesu iuwih eo, “Kwa God ana obaiyunen bosairen sa’ab ya’in naatu taiyuw abinanakwar bai’ufnunin isan i kwaso’ob kwanekwan!
10 Mô-se dạy, ‘Hãy tôn kính cha mẹ ngươi,’ và ‘người nào chửi mắng cha mẹ mình phải bị xử tử.’
10 Moses na’atube eo, ‘hinat tamat inakakafiyih, yait ta hinah tamah erarafih i boro hina’asabun namorob.’
11 Nhưng các ông dạy rằng, con cái nào cũng có thể thưa với cha mẹ, ‘Điều con có thể giúp cha mẹ thì đã là Co-ban rồi—nghĩa là đã dâng cho Thượng Đế.’
11 Baise o ta hinat tamat isah iti na’atube inao, abistan ayu’une kwa abibaisi i God ana sibor yayasairen.
12 Các ông không cho người đó dùng số tiền ấy để giúp cha mẹ nữa.
12 Tur nati na’atube nao, naatu boro men kafa’imo hinah tamah isah abisa ta nasinafumih.
13 Cho nên, khi các ông dạy người ta theo truyền thống ấy, thì các ông đã ném bỏ lời dạy của Thượng Đế. Các ông còn làm nhiều điều tương tự như thế.”
13 Kwa a’a’agir hai binanakawar kwabukikin naatu God ana tur i kamomow ebi’en naatu sawar afa moumurih maiyow auman nati na’atube kwasisinaf.”
14 Sau khi Chúa Giê-xu gọi dân chúng lại, Ngài bảo, “Mọi người hãy nghe và hiểu điều ta nói đây.
14 Iban maiye Jesu sabuw rou’ay gagamin eafih hina iuwih eo, “Kwa etei iti tur anao i kwananowar naniyan kwanab.
15 Không có cái gì từ ngoài đi vào thân thể người mà làm cho người dơ bẩn được. Người ta bị dơ bẩn là do những thứ phát xuất từ trong ra mà thôi.”
15 Men sawar iti ufunane en orot wanawanan irun iwa’an gub kakafin etatounimih, baise abisa orot wanawananane etitit imaim iwa’an orot gub kakafih etatoun.
16 — ausente —
16 Tain hinama’am na’at tur kwanonowar kwananot.”
17 Khi Chúa Giê-xu rời đoàn dân đi vào nhà thì các môn đệ hỏi Ngài về câu chuyện ấy.
17 Sabuw rou’ay gagamin ihamiyih in bar rur ufunamaim ana bai’ufununayah iti oroubon isan hibatiy.
18 Chúa Giê-xu bảo, “Các con vẫn chưa hiểu sao? Dĩ nhiên các con biết là không có cái gì từ ngoài vào trong người mà làm dơ bẩn con người được.
18 Iuwih eo, “Kwa auman boro’ika kwakakasiy? men abistan ta ufunane en erun iwa’an gub kakafin orot etatounimih.
19 Vì cái đó không nhập vào tâm trí mà vào bao tử tiêu hóa rồi bài tiết khỏi thân thể.” Chúa Giê-xu nói như thế để ám chỉ rằng không có thức ăn nào gọi là dơ bẩn cả.
19 Anayabin men orot dogoronamaim erurumih, baise en yan kabutin wanawanan erur naatu eafuwatait ere’er.” Iti na’atube eo ana maramaim Jesu kurerereb eo, “Bay etei’imak i gewasih kwanaa.”
20 Ngài dạy tiếp, “Những gì từ trong con người ra mới làm dơ bẩn con người.
20 Naatu ibanak eo maiye, “Abistan orot wanawananane etitit imaim iwa’an i’isan gub kakafin etatoun.
21 Những điều xấu xa sau đây phát xuất từ bên trong con người: ác tưởng, tội nhục dục, trộm cắp, giết người, ngoại tình,
21 Anayabin orot dogoron wanawanantoro’ot etitit, i not kakafin, sesebar, bar kweb, asabunubunuw, turahinah a’aawah ufuh na,
22 tham lam, độc ác, nói dối, dâm đãng, ganh tị, nói xấu kẻ khác, kiêu căng và ăn ở bậy bạ.
22 kabat, tur karur, tenagogor, baiwa’an ana yeyewra’aten, bahiy, koutabitabir, bai’o’orot, naatu baifufuwen.
23 Những điều ác đó từ bên trong ra mới làm dơ bẩn con người.”
23 Iti not kakafih etei’imak i orot wanawanane enan imaim iwa’an i’isan gub kakafin etatoun.”
24 Chúa Giê-xu rời nơi ấy đi đến khu vực gần thành Tia. Khi vào nhà, Ngài không muốn ai biết, nhưng không được.
24 Jesu efan nati ihamiy in tafaram Taiya wanawananamaim tit, naatu bar wanawanan run, men kok sabuw hitaso’ob i nati’imaim ma’am, baise men karam boro yumatan tibun.
25 Một thiếu phụ có cô con gái bị quỉ ám nghe tin Ngài ở đó. Bà liền đến quì trước mặt Chúa Giê-xu.
25 Nati’imaim babin natun babitai kikimin afiy kakafin tarasum ma bi’a’afiy Jesu ana tur nowar na biyan tit anamaim ra’iy.
26 Bà là người Hi-lạp, sinh trưởng vùng Phê-ni-xi thuộc Xy-ri. Bà van xin Chúa Giê-xu đuổi quỉ ra khỏi cô con gái mình.
26 Babin i Greek matuwan, baise ana tufuw an i Fonisia imaim tufuw tafaram Syria wanawanan, i Jesu ifefeyan natun biyanamaim afiy kakafin tanun tatit isan.
27 Chúa Giê-xu bảo bà, “Không nên lấy bánh của con cái mà cho chó ăn. Phải để con cái ăn no nê trước đã.”
27 Baise Jesu babin isan eo, “Wantoro’ot i boro kek abisa tekokok tanituwih, men ef ema’am boro kek hai bay tanab tanarub haru nahimaim nare hinab hina’aan.”
28 Nhưng bà thưa, “Lạy Chúa đúng vậy, nhưng các con chó dưới gầm bàn cũng được ăn bánh vụn của mấy đứa nhỏ.”
28 Baise babin eo, “Turobe Regah baise kek hai bay te’aa momosarih gem baban tere’er haru te’aau.”
29 Chúa Giê-xu đáp, “Vì câu đáp của bà, bà về đi, quỉ đã ra khỏi con bà rồi.”
29 Imaibo Jesu babin iu, “O abaiya’afotenamaim imih kwen, afiy o natu ihamiyika.”
30 Bà ấy trở về nhà thấy cô con gái nằm trên giường tỉnh táo, còn quỉ đã ra khỏi.
30 Babin matabir in ana bar tit ana kek gem yan inu’in itin afiy ihamiy titaka.
31 Sau đó, Chúa Giê-xu rời khu vực thành Tia, đi qua thành Xi-đôn, rồi đến hồ Ga-li-lê thuộc khu vực Thập Tỉnh.
31 Imaibo Jesu tafaram Taiya ihamiy Sidon wanawananamaim remor in Galilee harew kukuf yan re, naatu rabon Bar Merar Etei Umat Ronron hai me yan tit.
32 Đang khi Ngài ở đó, có mấy người mang đến một người điếc và đớ lưỡi, ăn nói ngọng nghịu. Người ta xin Ngài đặt tay chữa lành cho anh.
32 Nati’imaim sabuw afa orot tainin gugurin, naatu menan sarusarubet i hibai hina Jesu biyan hitit naatu uman biyan tabutubun isan hifefeyan.
33 Chúa Giê-xu dắt anh ra khỏi đám đông, riêng một mình với Ngài. Ngài đặt ngón tay trên lỗ tai anh, rồi nhổ nước miếng và sờ vào lưỡi anh ta.
33 Imih Jesu orot bai tit sabuw rou’ay gagamin ihamiyih akisinamo nabinamaim, naatu uman orot tainin wanawanan iuturiy, imaibo kwaitutur naatu orot menan butubun.
34 Ngước mắt lên trời, Ngài thở dài và nói, “Ép-pha-tha!” nghĩa là, “Hãy mở ra.”
34 Matan au mar nuw ra’at dogoron tutufin erawous naatu orot isan eo, “Efata,” anayabin “Kubotawiy!”
35 Lập tức người ấy nghe được, lưỡi trở nên thong thả, anh ta nói rõ ràng.
35 Mar ta’imonamo orot tainin botawiy tur nowar naatu menan yamutufur tur eo gaigiwas.
36 Chúa Giê-xu dặn mọi người không được cho ai biết việc ấy. Nhưng Ngài càng ngăn cấm bao nhiêu người ta lại càng đồn chuyện ấy ra bấy nhiêu.
36 Naatu Jesu sabuw eotanih eo, “Men yait ta ana tur kwana’owen.” Baise i mar etei sisinaf imih mar etei isan hio.
37 Dân chúng vô cùng kinh ngạc và bảo rằng, “Chúa Giê-xu làm mọi việc thật hết sức tốt đẹp. Ngài khiến kẻ điếc nghe được và người câm nói được.”
37 Sabuw anababatun hai kasiy ra’at hifofofor men kafaita, naatu hio “Sawar etei’imak sinafen gewas! Naatu i karam boro niwa’an tainih gugurih tur hinanowar naatu awah gugih tur hinao!”

Ler em outra tradução

Comparar com outra

Estude este capítulo no WhatsApp

Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Marcos 7, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.