Marcos 4
Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI
1 Chúa Giê-xu lại bắt đầu giảng dạy bên bờ hồ. Vì quần chúng tụ tập quanh Ngài quá đông nên Ngài lên ngồi trên một chiếc thuyền đậu gần bờ. Còn tất cả dân chúng thì ngồi trên bờ gần nước.
1 Iban maiye Jesu harew Galilee sisibinamaim ana bai’ubaiyen bai tit. Sabuw i himour kwanekwan imih i wa afe’en yen mare naatu sabuw harew sisibin dones yan himarir
2 Chúa Giê-xu dùng ngụ ngôn dạy dỗ họ nhiều điều. Ngài kể,
2 naatu i oroubonamaim sawar moumurih na’in i’obaiyih eo.
3 “Nghe đây! Có một nông gia đi ra gieo giống.
3 “Kwananowar! Masaw bowayan ana masawamaim ub tanumamih in.
4 Trong khi gieo, một số hột rơi trên đường đi, chim đáp xuống ăn hết.
4 Naatu ana ub tata’asi’asiy ana maramaim ub afa i ef yan hira’iy, naatu mamu hina hibow hi’aa.
5 Một số hột rơi nhằm chỗ đất đá, có ít đất thịt. Những hột giống ấy mọc nhanh vì có đất cạn.
5 Ub afa i karakarar yan kamar men gagamin yanamaim hira’iy, naatu saisewat hikuboubunih hiyen, anayabin me kikimin baban inu’in.
6 Nhưng khi mặt trời mọc lên liền bị chết héo, vì rễ không sâu.
6 Imih veya yen rararan ana mar ana fora’abinamaim, nati ub hikukubounih i hi’arat himorob, anayabin ah wairoron i men ra’iy me babanika.
7 Một số hột khác rơi nhằm chỗ cỏ gai, gai mọc mạnh chèn cây non tốt, nên cây ấy không sinh quả được.
7 Ub afa i fotan kokor wanawanan hira’iy, naatu ro’oh men matar, anayabin fotan yen fafa rab isuk.
8 Một số hột khác rơi vào chỗ đất tốt, liền mọc lên. Cây càng ngày càng lớn, kết quả càng nhiều. Có cây sinh ra ba chục hột, có cây sáu chục, có cây một trăm.”
8 Baise ub afa i me gewasin yan hira’iy, naatu hikubounih hiyen hibiw, afa i magamagar 30 na’atube, afa i rubirubih 60 na’atube, naatu afa i hiwai re 100 na’atube.”
9 Rồi Chúa Giê-xu bảo, “Người nào nghe ta được, hãy lắng tai nghe!”
9 Naatu Jesu iuwih eo, “O yait tain nama’am na’at iti tur nanowar ininotanot.”
10 Sau đó lúc có một mình Chúa Giê-xu, mười hai sứ đồ cùng một số người khác xúm quanh hỏi Ngài về các ngụ ngôn Ngài dùng.
10 Jesu akisin ma’am ana maramaim ana bai’ufununayah nah 12 naatu sabuw afa iyab tur hinonowar hina hibatiy oroubon anayabin so’ob isan.
11 Chúa Giê-xu bảo, “Các con được có trí hiểu những bí mật về Nước Trời, nhưng đối với người khác ta phải dùng chuyện ngụ ngôn
11 Naatu iuwih, “God ana aiwob ana buriburin i hibai kwa hit. Baise iyab no ufunamaim tema’am sawar etei i boro oroubonamaim hina’uwih.
12 vì:
12 Saise,
13 Sau đó Chúa Giê-xu hỏi các môn đệ, “Các con không hiểu ngụ ngôn nầy sao? Nếu truyện nầy mà không hiểu thì làm sao hiểu các truyện khác được?
13 Naatu Jesu i’uwih, “Kwa iti oroubon naniyan men kwanabaib na’at oroubon afa auman naniyah boro mi’itube kwanaso’ob?
14 Nông gia trong truyện cũng ví như người gieo lời của Thượng Đế vào lòng người ta.
14 Masaw bowayan i God ana tur ub na’atube ta’asiy re.
15 Có khi lời giảng dạy rơi trên đường đi, giống như người nghe lời dạy dỗ của Thượng Đế nhưng vừa nghe xong thì Sa-tăng liền đến cướp lấy lời đã được gieo trong lòng họ.
15 Sabuw afa i ub ef yan ta’asi’asiyen hire’erebe, God ana tur tenonowar ufunamaim, Satan boro nan abisa re hai yawasamaim tatanum boro nabosair.
16 Một số người khác như hột giống rơi trên đất đá. Họ nghe lời dạy liền hớn hở tiếp nhận.
16 Afa i ub karakarar yanamaim hire’erebe, tur gewasin tenonowar ana veya i boro matah nakabiy ereyasisir auman hinab.
17 Nhưng họ không để lời ấy thấm sâu vào đời sống, họ chỉ giữ lời dạy đó một thời gian ngắn thôi. Khi gặp khốn khổ hoặc gian nan vì lời dạy mà họ đã tiếp nhận, thì họ vội vàng rút lui.
17 Baise i an wairoroh en, imih boro men maninaka nawainabih, anayabin tur gewasin hibaib isan ahay waf naatu bai’akir kakafin wanawanan hinarur ana maramaim i boro saisewat hinare.
18 Có những người giống như hột giống rơi vào cỏ gai; họ nghe lời dạy
18 Naatu baise ub afa i fotan kokor wanawanan hire’erebe, i tur gewasin tenonowar,
19 nhưng lại để những lo âu đời nầy, bả vinh hoa phú quí và những ham muốn xấu xa khác khiến cho lời dạy bị nghẹt ngòi, không kết quả trong cuộc sống họ được.
19 baise i hai yababan biyah ana yasisir isan, totobuyoy ana baitenbibiren, naatu hai kok sawar ta ta men gewasih erun, tur gewasin hai yawasamaim erabirab, imih men ebiwamih.
20 Một số người khác giống như hột giống trồng nơi đất tốt. Họ nghe lời dạy và vui vẻ tiếp nhận rồi lớn lên và kết quả—có hột sinh ra ba chục, hột thì sáu chục, hột thì một trăm.”
20 Naatu sabuw afa i ub me gewasin yanamaim hire’ere’ebe, tur hinowar hibasit hibai naatu hai yawasamaim ro’on matar, afa i 30, afa 60, naatu afa i 100.”
21 Sau đó Chúa Giê-xu dạy họ, “Có bao giờ các con lấy cái đèn giấu dưới cái chậu hay dưới giường không? Không! Đèn thì các con để trên chân đèn.
21 Naatu i’uwih, “Kwa ramef kwabito’ab i noukwatamaim kwatatarafut? O gem babanamaim kwaya’iyai? Ai ana sisikofamaim kwasisikof?
22 Điều gì kín giấu trước sau cũng bị phơi bày ra, và việc nào bí mật rồi cũng bị lộ ra.
22 Anayabin sawar abisa baibunuwenamaim ti’inu’in boro hinagatur, naatu sawar abisa wa’iwa’irih ti’inu’in boro hinatit hinibebeyan.
23 Ai có thể nghe ta được, hãy lắng nghe cho kỹ.
23 O yait tain nama’am na’at iti tur inanowar inanot!”
24 Hãy suy nghĩ thật cẩn thận điều mình nghe. Các con cho kẻ khác thể nào thì Thượng Đế cũng sẽ cho các con lại thể ấy, và còn cho thêm.
24 Ibanak iuwih maiye, “Kwananowar gewas! O sabuw kufufufunih na’atube, nati fufun ta’imonamaim boro God o nafufuni, baise boro afe’enamaim naya’abar auman nafufuni.
25 Ai có trí hiểu sẽ được cho thêm nhưng ai không có thì lại bị lấy luôn điều họ đã có nữa.”
25 Yait aurin ema’am boro afe’en hinaya’abar hinitin, yait aurin en, abistanawat biyan ti’inu’in boro hinabosair.”
26 Rồi Chúa Giê-xu dạy thêm, “Nước Trời giống như người gieo giống xuống đất.
26 Ibanak eo maiye, “God ana aiwob i orot ub me yan tatanum na’atube.
27 Hết ngày đến đêm, dù người ngủ hay thức, hột giống tiếp tục nẩy mầm, nhưng người ấy không biết hột giống lớn lên ra sao.
27 Fai mar in emimisir, i men so’ob ub i mi’itube kuboun yen erara’at.
28 Từ đất tạo ra hột. Trước là cây non, sau là hoa rồi đến hột.
28 Me akisin ub ituw eyey, wantoro’ot i boro nakufufun, naatu naiwan nayai, imaibo boro niw ro’on namatar.
29 Khi hột đã chín thì người ta gặt, vì đến mùa.”
29 Naatu sanabey ibiyamur ana maramaim, masaw bowayan boro ana nikok nab natit nan natar.”
30 Chúa Giê-xu dạy thêm, “Ta phải lấy gì để so sánh với Nước Trời? Ta phải dùng truyện gì để giải thích về nước ấy?
30 Naatu ibanak eo maiye, “God ana aiwob boro abisa’amaim tanayai tanao, o oroubon boro menatanamaim tanakubuna kwananowar?
31 Nước Trời giống như một hột cải, nhỏ nhất trong các loại hột giống người ta trồng.
31 I ana itinin i momor ro’on kikimin maiyow na’atube, tafaramamaim iti ro’on i kikimin maiyow o boro me yan inatanum.
32 Nhưng khi trồng rồi, hột ấy mọc lên thành cây lớn nhất so với mọi thứ cây trồng trong vườn. Cây ấy có nhánh to rậm, đến nỗi chim trời làm tổ dưới bóng nó được.”
32 Baise inatatanun ufunamaim, boro nara’at nayen masaw etei nanatabir, ai gagamin famefamen auman namatar, naatu famenamaim mamu boro hinan hinabatar.”
33 Chúa Giê-xu dùng nhiều ngụ ngôn tương tự để dạy dân chúng về lời của Thượng Đế—theo khả năng hiểu biết của họ.
33 Oroubon maumurih na’in iti na’atube imaim binan sabuw hima hinowar, saife isah tirerereb naniyan hitab.
34 Bao giờ Ngài cũng dùng ngụ ngôn để dạy dân chúng, nhưng khi ở riêng thì Ngài giải thích hết cho các môn đệ.
34 Sabuw isah i oroubonamaim eo hinonowar, baise nabinamaim oroubon hai yabih i ana bai’ufununayah eo hinonowar.
35 Chiều hôm ấy Chúa Giê-xu bảo các môn đệ, “Chúng ta hãy đi qua bờ hồ bên kia.”
35 Nati veya ta’imon ana rabirab, i ana bai’ufununayah iuwih, “It i boro tanarabon harew rounane.”
36 Rời đám đông dân chúng, các môn đệ dùng chiếc thuyền mà Ngài đã ngồi dạy đưa Ngài đi. Có các thuyền khác cùng đi nữa.
36 Ana bai’ufununayah hire wa i afe’en ma’amamaim hisra’at. Naatu wa afa i nati’imaim auman hibatabat.
37 Bỗng một cơn bão nổi lên thổi tạt qua hồ. Sóng ào ạt tràn vào gần ngập thuyền.
37 Hirarabon wowog tafair tit, naatu yabat misir, harew wa wanawanan iwan yen awan kakaratan. Wa yabat wanawanan run|alt="boat in storm" src="CN01707B.TIF" size="col" loc="Mrk 4.37" copy="©1978 David C. Cook Publishing Co." ref="4.37"
38 Trong khi ấy, Chúa Giê-xu đang dựa gối ngủ phía đuôi thuyền. Các môn đệ hốt hoảng đến đánh thức Ngài dậy, “Thầy ơi, thầy không lo chúng ta sắp chết đuối hết sao?”
38 Jesu wa uranane ukwarin kunuwar yara’ah matan fot inu’in. Ana bai’ufununayah hibunibun misir hiu, “Bai’obaiyenayan it morob isan men kunotanot?”
39 Chúa Giê-xu liền đứng dậy ra lệnh cho sóng và gió, “Hãy im đi! Lặng đi!” Gió liền ngưng, mặt hồ trở lại yên lặng như tờ.
39 Misir wowog naatu yabat kwarar eo, “Kwanutanub! Kwa’inbaibinub!” Naatu wowog morob ra’iy nuwarob eafuw.
40 Chúa Giê-xu hỏi các môn đệ, “Sao các con sợ? Các con vẫn chưa có đức tin sao?”
40 Ana bai’ufununayah iuwih, “Aisim kwabirubir? Kwa men kwabitumatum?”
41 Các môn đệ vô cùng sợ hãi bảo nhau, “Ông nầy là ai mà đến nỗi sóng và gió cũng vâng lệnh?”
41 Ana bai’ufununayah hibir naatu taiyuwih hibabatiyih, “Iti orot i yait? Wowog naatu yabat hairi fanan hibai!”
Atalhos do teclado
- Capítulo anterior←
- Próximo capítulo→
- Versículo anteriork
- Próximo versículoj
- Limpar seleçãoEsc
- Esta ajuda?
Estude este capítulo no WhatsApp
Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Marcos 4, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.