Marcos 3
Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs MNT
1 Một lần khác Chúa Giê-xu vào hội đường, ở đó có một người bị liệt bàn tay.
1 Jesu iban matabir maiye na Kou’ay Bar wanawanan run, naatu orot uman murubin i nati’imaim ma’ama.
2 Vài người theo dõi xem thử Chúa Giê-xu có chữa lành người bệnh trong ngày Sa-bát không, để tố cáo Ngài.
2 Sabuw afa Jesu baikubibiruwin isan i nati’imaim hima hi’i’itin, saise orot uman murubin Baiyarir Ana Veya tabiyawas hitikubibiruw isan.
3 Chúa Giê-xu nói với người bị liệt tay: “Anh hãy đứng lên trước mặt mọi người.”
3 Jesu orot uman murubin iu, “Kuyen kuna iti nou’umaim.”
4 Rồi Ngài hỏi dân chúng, “Điều nào có phép làm trong ngày Sa-bát: làm lành hay làm dữ, cứu người hay giết người?” Nhưng họ đều làm thinh.
4 Imaibo sabuw isah eo, “Baiyarir ana veya’amaim ata ofafar i gewasin sinaf isan ebibasit or kakafin sinaf isan ebibasit? Orot tanibais yawas nab or tanimurub?” Baise i men tur ta hi’omih.
5 Chúa Giê-xu nhìn họ mà tức giận, lòng Ngài buồn nản vì thấy họ ương ngạnh. Ngài liền bảo người bị liệt tay, “Anh hãy giơ tay ra.” Anh ta giơ ra thì tay được lành.
5 Jesu nan ufun inuwanuw itih yumatah fofokar isan yan so’ar, baise ibanak maiye isah iyababan, anayabin matah kufaf hisisinaf kakaf. Imaibo orot isan eo, “Uma ku’otofair.” Orot uman otofair tit igewasin.
6 Những người Pha-ri-xi đi ra, bàn mưu với các đảng viên Hê-rốt để giết Chúa Giê-xu.
6 Basit Pharisee mar ta’imonamo Kou’ay Bar hitumar hitit hin Herod ana kou’ay bairi rabin morob isan baban hio.
7 Chúa Giê-xu cùng các môn đệ rời nơi ấy để đi đến hồ, có đoàn dân rất đông từ vùng Ga-li-lê đi theo Ngài.
7 Jesu ana bai’ufununayah bairi hitit hina Galilee harew Kukufamaim hitit. Naatu sabuw rou’ay gagamin maiyow hi’ufunun hinan i Galilee’ine, Judea’ane,
8 Nhiều người từ miền Giu-đia, Giê-ru-sa-lem, Y-đu-mia, từ vùng đất phía Đông sông Giô-đanh và từ vùng Tia và Xi-đôn đến nữa. Khi nghe đồn những việc Chúa Giê-xu làm, thì có vô số người đến tìm Ngài.
8 Jerusalemane, Idumea ana umanika, naatu Jordan sisibin veya yeninane na’atube bar merar gagamin Taiya naatu Sidon wanawanahine hina. Sabuw etei i Jesu abisa sisinaf ana tur hinowar hina.
9 Nhìn thấy đám đông, Chúa Giê-xu bảo các môn đệ chuẩn bị cho Ngài một chiếc thuyền để khỏi bị dân chúng lấn ép.
9 Naatu rou’ay i ra’at kwanekwan kafa’imo yaten hitayen, imih Jesu ana bai’ufununayah iuwih wa ta hiyabuna.
10 Vì Ngài đã chữa lành nhiều người bệnh nên những ai mắc bệnh đều chen lấn nhau để được rờ Ngài.
10 Anayabin sabuw moumurih na’in iyawasih, naatu sabuw afa hisasawow i ef hinunuwet hitan hitabutubun isan.
11 Khi tà ma thấy Chúa Giê-xu thì chúng quì xuống trước mặt Ngài và kêu lên “Ngài là Con Thượng Đế!”
11 Naatu sabuw afa biyahimaim afiy kakafih hima’am hinuw hi’i’itin ana maramaim i nanamaim hire rabih hikirir hio, “O God Natun.”
12 Nhưng Chúa Giê-xu cấm chúng nó không được nói Ngài là ai.
12 Jesu afiy kakafih kwararih iuwih eo, “Men yait ta ana tur kwana’owen ayu i yait!”
13 Khi Chúa Giê-xu lên núi kia, Ngài gọi những người Ngài muốn, thì tất cả những người ấy đến với Ngài.
13 Imaibo Jesu yen in heher wanamaim bat, basit orot i ana kokomaim eafih hina biyan hitit.
14 Chúa Giê-xu chọn mười hai người và gọi họ là sứ đồ Ngài muốn họ ở bên cạnh Ngài và sai họ đi ra giảng đạo,
14 Naatu nah 12 rubinih tur abarayah iwabih eo, “Ayu arubini saise kwa boro bairit tanama aniyafari kwanatit kwanan kwanabinan.
15 đồng thời cho họ quyền đuổi quỉ ra khỏi những kẻ bị ám.
15 Naatu boro fair kwanab Wagabur kwananunih hinatit.”
16 Đây là tên mười hai người Ngài chọn: Xi-môn mà Ngài đặt tên là Phia-rơ,
16 Orot nah 12 Jesu rurubiniyih wabih i iti, Simon, wabin ta Peter (Jesu ufibo iwab),
17 Gia-cơ và Giăng, con của Xê-bê-đê. Ngài đặt tên cho hai anh em nầy là Bô-a-nẹt, nghĩa là “Con của Sấm Sét,”
17 James, tain John hairi, orot Zebedee natunatun, Jesu wabih Boaneges, wabih anayabin farafarar natunatun.
18 Anh-rê, Phi-líp, Ba-thê-lê-mi, Ma-thi-ơ, Thô-ma, Gia-cơ con của A-phê, Tha-đê, Xi-môn thuộc đảng Xê-lốt,
18 Andrew, Philip, Bartholomew, Matthew, Thomas, James, orot Alpheus natun, Thaddeus, tafaram kafafarayan orot wabin Simon ana orot ta,
19 và Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, người về sau phản Ngài.
19 naatu Jesu ana yanuwayan orot Judas Iscairot.
20 Sau đó Chúa Giê-xu về nhà nhưng dân chúng lại tụ tập đông đảo đến nỗi Ngài và các môn đệ không ăn được.
20 Imaibo Jesu ana au bar in, ibanak maiye sabuw moumurih na’in hiru’ay naatu Jesu ana bai’ufununayah bairi veya men ma boro bay hitaa.
21 Nghe thế nên thân nhân Ngài xuống để bắt Ngài về, vì họ cho rằng Ngài đã bị cuồng trí.
21 Naatu i taintuwan tur hinonowar ana veya bainamih hina hitit, anayabin sabuw hio, “I koko’aw isan matar!”
22 Nhưng các giáo sư luật đến từ Giê-ru-sa-lem bảo rằng, “Ông ta bị quỉ Sa-tăng ám! Ông ta chỉ giỏi dùng quyền chúa quỉ mà đuổi quỉ đó thôi.”
22 Ofafar bai’obaiyenayah afa Jerusalemane hinan hio, “I biyanamaim i Wagabur Beelzebul hitarasum ema’am, imih Wagabur hai ukwarin fair itin Wagabur nunih tititit.”
23 Chúa Giê-xu liền gọi dân chúng đến, dùng ngụ ngôn để dạy họ. Ngài bảo “Quỉ Sa-tăng không thể tự đuổi mình ra khỏi người ta được.
23 Imih Jesu e’af hina biyan hitit naatu oroubonamaim eo, “Satan boro mi’itube i taiyuwin nanun?
24 Một nước bị phân hóa không thể nào tồn tại,
24 Tafaram ta’imon hinakusib rou’ab namatar hinabiyow i hai fair boro naririm,
25 và gia đình nào tự chia rẽ sẽ tan hoang.
25 na’atube ain uf rara’amaim hinakusib hinabiyow i hai fari boro naririm.
26 Nếu quỉ Sa-tăng tự chống lại mình hoặc nghịch lại những kẻ theo nó thì làm sao nó tồn tại được? Thế là Sa-tăng đã đến đường cùng rồi.
26 Imih Demon Ana Aiwob wanawananamaim hinakusib taiyuwih hinabiyow, i hai aiwob boro nariririm, naatu boro nan yomanin nasawar.
27 Không ai có thể ập vào nhà một người lực lưỡng mà cướp đồ người ấy được. Phải trói anh ta lại trước rồi mới lấy đồ trong nhà sau.
27 “Men yait ta boro orot fairin ana bar nakwib narun ana sawar nabowamih, baise wantoro’ot orot fairin nab nafatum, imaibo boro narun ana sawar nabow.
28 Ta bảo thật, tất cả những tội lỗi người ta làm hoặc những lời nói phạm đến Thượng Đế sẽ được tha.
28 Turobe a tur ao’owen sabuw bowabow kakafih tisisinaf naatu baigigimen tur teo’o etei boro notawiyen hinab.
29 Nhưng ai nói phạm đến Thánh Linh sẽ không được tha đâu; người ấy sẽ mắc tội đời đời.”
29 Baise orot yait Anun Kakafiyin isan baigigimen tur nao’o boro men nanotawiyimih, anayabin i wanatowan ana bowabow kakafin sinaf ana ubar bai.’”
30 Chúa Giê-xu nói thế là vì các giáo sư luật bảo rằng Ngài bị quỉ ám.
30 Jesu tur iti eo anayabin sabuw afa hi’o, “Afiy kakafin biyanamaim hitarasum tema’am.”
31 Bấy giờ có mẹ và anh em của Chúa Giê-xu đến đứng ở ngoài và cho người vào trong gọi Ngài ra.
31 Imaibo Jesu hinah naatu taitin hina hitit ufun hibat naatu tur hiyafar run isan.
32 Nhiều người đang ngồi vây quanh Chúa Giê-xu, có người thưa với Ngài, “Mẹ và anh em thầy đang chờ thầy ở ngoài kìa!”
32 Sabuw rou’ay gagamin Jesu hi’arbebera’uh hima’am himisir isan hio, “Ku’itin o hinat, tait ruburub etei ufun tebatabat, tekokok o hina’iti.”
33 Chúa Giê-xu hỏi, “Ai là mẹ ta và anh em ta?”
33 Jesu iyafutih eo, “Ayu hinai, naatu ayu taitu i, iyab?”
34 Rồi Ngài nhìn những người ngồi quanh Ngài và bảo, “Đây là mẹ ta và anh em ta!
34 Jesu nuw sabuw nan ufun hima’am itih naatu eo, “Kwa iti kwama’am i ayu hinai naatu taitu.
35 Người nào làm theo ý muốn Thượng Đế, người đó mới thật là anh em, chị em và mẹ của ta.”
35 Yait God ana kokomaim esisinaf i ayu taitu, ruburubu naatu hinai.”
Atalhos do teclado
- Capítulo anterior←
- Próximo capítulo→
- Versículo anteriork
- Próximo versículoj
- Limpar seleçãoEsc
- Esta ajuda?
Estude este capítulo no WhatsApp
Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Marcos 3, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.