Marcos 2
Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI
1 Vài ngày sau, Chúa Giê-xu trở lại thành Ca-bê-nâm, tiếng đồn loan ra là Chúa Giê-xu có mặt ở nhà.
1 Veya bai’ab na’atube sasawar ufunamaim Jesu matabir maiye na ana bar Capernaum titit ana veya, ana tur tasasar tit etei hinowar.
2 Dân chúng kéo lại quá đông khiến nhà chật ních, đến nỗi ngoài cửa cũng không có chỗ chen chân. Trong khi Chúa Giê-xu đang giảng dạy dân chúng về lời của Thượng Đế,
2 Naatu sabuw moumurih maiyow hiru’ay bar awan karatan tit in etawan awan auman bai daririr iwa’an. Naatu i busuruf binan hima hinowar.
3 thì có bốn người khiêng một người bị bại đến.
3 Nati ana maramaim orot kwafe’en turan an uman murubin hi’abar Jesu isan hina.
4 Vì dân chúng tụ tập quá đông, họ không làm sao mang anh ta đến trước mặt Chúa Giê-xu được nên họ mở một khoảng trống trên mái nhà ngay chỗ Chúa Giê-xu đang nói chuyện và thòng người bại đang nằm trên cáng xuống.
4 Baise rou’ay gagamin orot bain run isan men karam, imih orot hibai hiyen Jesu batabat tafanamaim faifiy wan hitarayouw. Naatu orot ana emo’em auman murabamaim hiruru ra’iy.
5 Khi thấy đức tin của họ, Ngài bảo người bại rằng, “Con ơi, tội con đã được tha rồi.”
5 Naatu Jesu hai baitumatum i’itin ana maramaim orot an uman murubin isan eo, “Natu a bowabow kakafih anotanotawiyen.”
6 Mấy giáo sư luật có mặt tại đó mới nghĩ thầm rằng,
6 Nati’imaim Ofafar bai’obaiyenayah afa hima’am hai notamaim hibabatiyih hio,
7 “Ông nầy là ai mà dám ăn nói táo bạo như vậy? Ông ta nói như thể mình là Trời. Chỉ có một mình Trời mới có quyền tha tội thôi.”
7 “Orot aisim iti na’atube eo’o? Iti i baigigimen tur, God akisinamo bowabow kakafih enotanotawiyen, men yait ta.”
8 Chúa Giê-xu biết ngay ý nghĩ của họ nên Ngài hỏi, “Tại sao các ông thầm nghĩ như thế trong lòng?
8 Abisa isan hinotanot Jesu mar ta’imon so’ob, naatu eo, “Aisim nati na’atube kwanotanot?
9 Trong hai điều nầy, điều nào dễ hơn: Một là nói với người bại rằng, ‘Tội con đã được tha,’ hai là bảo, ‘Hãy đứng dậy, cuốn chăn chiếu mà đi’?
9 Menatan i hamehamen? Orot an uman murubin ana abowabow kakafih notawiyen isan ana’o i hamehamen? Ai, anau ana ir nanu nab nanan i hamehamen?
10 Nhưng tôi sẽ chứng tỏ cho các ông thấy Con Người có quyền tha tội trên đất,” nên Chúa Giê-xu nói với người bại,
10 Baise ani’obaiyi kwanaso’ob, Orot Natun iti tafaramamaim ana fair i ema’ama bowabow kakafih notawiyen isan.” Naatu orot an uman murubin isan eo,
11 “Tôi bảo anh đứng dậy cuốn chăn chiếu đi về nhà.”
11 “Ayu au’uwi, kumisir a ir kunu kubai au bar kwen!”
12 Người bại lập tức đứng dậy, cuốn chăn chiếu đi ra trước sự chứng kiến của mọi người. Dân chúng vô cùng kinh ngạc và ngợi tôn Thượng Đế. Họ bảo nhau, “Từ trước tới giờ, chưa khi nào chúng ta thấy chuyện lạ như thế nầy!”
12 Inu’in misir, ana ir tensamur bai nu nah yan foun hibat hi’itin remor tit in, nati’imaim sabuw etei hifofofor men kafaita naatu God hibora’ara’ah hio, “Aki sawar iti na’atube men a’itin!”
13 Chúa Giê-xu lại ra bờ hồ lần nữa, có dân chúng đi theo và Ngài dạy dỗ họ.
13 Jesu matabir na Galilee harew kukuf rewanamaim tit, rou’ay gagamin isan hina naatu i busuruf i’obaibiyih.
14 Trong khi Ngài đang đi thì thấy Lê-vi, con của A-phê đang ngồi ở trạm thu thuế. Chúa Giê-xu bảo ông, “Hãy theo ta,” ông liền đứng dậy theo Ngài.
14 Nati’imaim remor inan kabay o’onayan Levi, Alpheus natun ana bowabow efanamaim ma’am itin isan eo, “Ayu kwi’ufnunu.” Levi misir Jesu i’ufunun hairi hin.
15 Sau đó, Chúa Giê-xu dùng bữa tại nhà Lê-vi, có các nhân viên thu thuế, những kẻ có tội cùng các môn đệ Ngài ăn chung. Những người như thế đi theo Chúa Giê-xu.
15 Nati ufunamaim Jesu Levi ana bar wanawanan kabay o’onayah naatu bowabow kakafih sinafuyah moumurih maiyow Jesu hi’ufunun bairi hinan ana bai’ufununayah bairi himare bay hi’aa, naatu sabuw kakafih afa moumurih maiyow auman hibi’ufunun.
16 Khi các giáo sư luật thuộc phái Pha-ri-xi thấy Chúa Giê-xu ăn chung với những người thu thuế và kẻ có tội, họ liền hỏi các môn đệ Ngài: “Sao ông ta ăn chung với phường thu thuế và kẻ có tội như thế?”
16 Ofafar bai’obaiyenayah iyab Pharisee ana kou’ayamaim hima’ama hi’itin hina ana bai’ufununayah hibatiyih, “Aisim sabuw nati na’atube bairi te’aa?”
17 Chúa Giê-xu nghe vậy mới bảo họ rằng: “Người khoẻ mạnh đâu cần bác sĩ, chỉ có người bệnh mới cần thôi. Ta đến không phải để kêu gọi người tốt mà gọi tội nhân.”
17 Jesu nowar naatu iyafutih eo, “Sabuw aurih sawow en adanafur orot boro men hinakok, baise sabuw iyab sawusawuwih adanafur orot boro hinakok. Ayu men sabuw gewasih isah anamih, baise kakafih isah.”
18 Môn đệ của Giăng và người Pha-ri-xi thường hay cữ ăn trong một thời gian. Một số người đến hỏi Chúa Giê-xu, “Tại sao môn đệ của Giăng và môn đệ của người Pha-ri-xi cữ ăn còn môn đệ của thầy thì không?”
18 Veya ta John Baptist ana bai’ufununayah naatu Pharisee bairi hiyoyohar isan, sabuw afa hina Jesu biyan hitit hibatiy, “Aisim John Baptist ana bai’ufununayah naatu Pharisee hai bai’ufununayah bairi teyoyohar baise o a bai’ufununayah i en?”
19 Chúa Giê-xu đáp, “Bạn của chú rể không cữ ăn khi chú rể đang còn ở với họ. Hễ chú rể còn ở với họ, họ không cữ ăn.
19 Jesu iyafutih eo, “Kwanotanot sabuw tabin ana yasisir isan nanawan hinanan boro amurumurubih hinamatabir? Aiyab! Tabin boubun isan nanawan sabuw nati’imaim boro men hinayoharamih.
20 Nhưng khi nào chú rể đi rồi thì họ mới cữ ăn.
20 Baise veya enan tabin boubun boro biyahimaim hinabosair imaibo hinayohar.
21 Không ai vá một viếng vải mới chưa bị rút vào lỗ rách của cái áo cũ vì miếng vải mới sẽ rút lại, chằng rách áo cũ. Lỗ rách sẽ càng xấu thêm.
21 Na’atube faifuw boubun reban men karam hinab faifuw atamanin hinafitimih, anayabin faifuw boubun nakaro’om faifuw atamanin boro natakweb mahar nara’at.
22 Cũng không ai đổ rượu mới vào bầu da cũ. Rượu mới sẽ làm nứt bầu, rượu cũng mất mà bầu cũng chẳng còn. Rượu mới phải đựng trong bầu da mới.”
22 Na’atube men yait ta wine boubun bai, wine ana koukufet atamaninamaim ririmih, anayabin wine boubun nagadid nayen koukufet boro nataseb, naatu wine, koukufet hairi boro hai yabih en hinamatar. Imih wine boubun i boro koukufet boubunamaim hinarir saise hairi boro gewasih hinabat.”
23 Vào ngày Sa-bát nọ, Chúa Giê-xu đi qua cánh đồng lúa, các môn đệ Ngài vừa đi vừa bứt bông lúa ăn.
23 Baiyarir ana veya Jesu ana bai’ufununayah bairi sanabey wanawanan hiremor hinan naatu hibusuruf sanabey hirut,
24 Người Pha-ri-xi thấy thế mới hỏi, “Tại sao môn đệ của thầy làm điều trái phép trong ngày Sa-bát?”
24 Pharisee Jesu hi’u, “Kwi’itin aisim it ata Baiyarir ana ofafar o abai’ufununayah te’a’astu’ub?”
25 Chúa Giê-xu đáp, “Thế các ông chưa đọc điều Đa-vít và những bạn đồng hành làm khi bị đói sao?
25 Jesu iyafutih eo, “David ana orot bairi aa himomorob ana veya abisa sisinaf kwaiyab kwa’itin? Ana orot bairi aa himomorob ana veya
26 Trong thời A-bia-tha làm thầy tế lễ tối cao, Đa-vít vào lều của Thượng Đế, lấy bánh thánh ăn, loại bánh mà chỉ có thầy tế lễ mới được phép ăn. Ông ta cũng cho các bạn đồng hành ăn nữa.”
26 in God ana bar wanawanan run naatu faraw kakafiyin bai eaan. Iti mamatar i Abiathar Firis Gagamin ma’am ana veya. It ata ofafar eo i firis akisihimo iti rafiy hinaa, baise David eaan naatu ana orot turin itih hi’aa.”
27 Rồi Chúa Giê-xu bảo người Pha-ri-xi “Ngày Sa-bát được lập ra để giúp loài người; chứ loài người không phải được dựng nên để lệ thuộc ngày Sa-bát.
27 Naatu Jesu ana tur yomanin baisawarin isan iti na’atube eo, “Baiyarir i orot ana gewasin isan matar, baise orot i men Baiyarir isan ni’akiramih.
28 Vì thế, Con Người cũng là Chúa của ngày Sa-bát.”
28 Imih Orot Natun i Baiyarir Tamah anababatun.”
Atalhos do teclado
- Capítulo anterior←
- Próximo capítulo→
- Versículo anteriork
- Próximo versículoj
- Limpar seleçãoEsc
- Esta ajuda?
Estude este capítulo no WhatsApp
Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Marcos 2, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.