Marcos 16
Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI
1 Đến hôm sau ngày Sa-bát, Ma-ri Ma-đơ-len, Ma-ri mẹ Gia-cơ và Xa-lô-mê mua thuốc thơm để xức xác Chúa Giê-xu.
1 Baiyarir ana veya sasawar ufunamaim, Mary Magdalin, Mary, James hinah naatu Salome, spices hitobon hibow hin Jesu biyan hitarab isan.
2 Sáng sớm hôm ấy tức ngày đầu tuần lễ, khi vừa rạng đông, các bà đi đến mộ.
2 Fur ebubusuruf i anamaim maraumanika, baibin hin rahemaim hitit.
3 Họ hỏi nhau, “Ai sẽ lăn giùm tảng đá lớn chận cửa mộ cho chúng ta đây?”
3 Hinan efamaim taiyuwih hibabatiyih hio, “Hub awanamaim kabay gagamin hihirafut inu’in boro yait nifururuw natit?”
4 Nhưng khi nhìn, thì họ thấy tảng đá, mặc dù rất lớn, đã được lăn đi rồi.
4 Baise baibin nah hitara’ah hinuwanuw nahimaim hub awanamaim kabay gagamin i hifururuw au sisibin titaka batabat.
5 Bước vào mộ, các bà thấy một thanh niên mặc áo trắng ngồi bên phải, họ hoảng hồn.
5 Naatu baibin mutufor hin hub wanawanan hirun, hinuwanuw hai asukwafune orot boubun ana faifuw kwes us ma’am hi’itin naatu yah birubir fafar.
6 Nhưng anh bảo, “Các chị đi tìm Chúa Giê-xu Na-xa-rét, Đấng đã bị đóng đinh. Đừng sợ! Ngài đã sống lại từ kẻ chết rồi, Ngài không có đây đâu. Hãy xem! Đây là chỗ người ta đã đặt xác Ngài.
6 Baise orot eo, “Men kwanabir, ayu aso’ob kwa i Jesu Nasaret mowan hi’onaf momorob i kwanunuwih, i morobone misir, naatu men iti’imaim ema’ama. Ana efan iti kwa’itin en.
7 Bây giờ các chị hãy đi bảo với môn đệ Ngài và Phia-rơ rằng, ‘Chúa Giê-xu sẽ đi đến miền Ga-li-lê, các ông sẽ gặp Ngài tại đó như Ngài đã bảo trước với các ông.’”
7 Baise kwanan ana bai’ufununayah hai tur kwana’owen, Peter auman ana tur kwana’owen, Jesu i mat enan au Galilee. Kwa boro imaim kwana’itin marasika iu’uwi na’atube.’”
8 Sững sờ và run rẩy vì sợ, các bà bỏ chạy khỏi mộ. Họ không dám thuật cho ai việc đã xảy ra, vì quá kinh hoàng.
8 Baibin hikasiy naatu ah umah duduwar rab, rah hihamiy hitit naatu hibihir hin. Abistanawat mamatar men yait ta ana tur hi’owen anayabin hibir.
9 Sau khi Chúa Giê-xu sống lại từ trong kẻ chết vào ngày đầu tuần, Ngài hiện ra cho Ma-ri Ma-đơ-len là người được Ngài đuổi bảy quỉ dữ ra.
9 Jesu morobone mimisir ufunamaim, fur bubusuruf i anamaim maraumanika wantoro’ot i Mary Magdalin isan irerereb, nati babin Mary biyanamaim wagabur etei seven nunih hitit.
10 Sau khi Ma-ri gặp Chúa Giê-xu, cô đi thuật lại cho các môn đệ đang buồn thảm khóc than.
10 Etei hima hiyababan hirererey, Mary na hai tur eowen,
11 Nhưng khi nghe Ma-ri bảo rằng Chúa Giê-xu đã sống và chính cô ta đã trông thấy Chúa, thì họ không tin.
11 baise Jesu yawas maiye misir matan yan itin na eo hinonowar men hitumitum.
12 Sau đó Chúa Giê-xu lấy hình dạng khác hiện ra cùng hai môn đệ, trong khi họ đang đi về miền quê.
12 Nati ufunamaim, Jesu ana bai’ufununayah rou’ab masaw bar hinan efamaim Jesu nah touman hai itinin na’atube isah irerereb.
13 Họ trở về thuật lại chuyện ấy cho các môn đệ khác nhưng các môn đệ cũng không tin.
13 Hi’intabir hina hai ofonah afa hai tur hi’owen baise men kafa’imo hitumatum.
14 Sau đó Chúa Giê-xu hiện ra cùng mười một môn đệ lúc họ đang ăn, quở trách họ vì họ cứng lòng không chịu tin những người đã thấy Ngài sống lại từ kẻ chết.
14 Uftoro’ot bai’ufununayah nah 11 hima bay hi’aau Jesu isah irerereb, naatu men hibitumatum naatu dogoroh fofokar isan gam iuwih, anayabin sabuw iyab i morobone misir isah birerereb hi’itin hina hai tur hi’o’owen men hitumatum.
15 Chúa Giê-xu bảo các môn đệ, “Các con hãy đi khắp nơi trên thế giới, rao giảng Tin Mừng cho mọi người.
15 Jesu iuwih eo, “Tafaram wanawanan etei kwanaremor naatu Tur Gewasin kwanabinan tafaram tutufin etei isah.
16 Ai tin và chịu lễ báp-têm sẽ được cứu, ai không tin sẽ bị kết tội.
16 Yait nitumatum bapataito kwanabitin boro yawas nab; baise yait men nabitumatum ana yawas boro nikasiy.
17 Người tin sẽ có thể làm những dấu lạ sau đây: Nhân danh ta đuổi quỉ. Họ sẽ nói các thứ ngôn ngữ mới.
17 Naatu ina’inan iti boro iyab ayu tibitutumu biyahimaim nakwah auman hinatit, ayu wabu hinasu’ub wagabur kakafih boro hinabihir; menah nabotabir tur afa boubuh hina’o.
18 Họ có thể bắt rắn trong tay hoặc uống độc dược mà không hại gì. Họ đặt tay trên kẻ đau thì kẻ đau sẽ lành.”
18 Kok hinabowabow boro men hinayubih, moromorob harew hinatomatom boro men hinamorob. Sabuw hinasawow hina’inu’in umah biyahimaim hinayara’aten boro hinayawas.”
19 Sau khi Chúa Giê-xu nói những lời ấy xong với các môn đệ thì Ngài được đưa về thiên đàng và ngồi bên phải Thượng Đế.
19 Jesu ana bai’ufununayah isah eo sasawar ufunamaim, earura’ah yen au mar Tamah God ana asumaiyowane mara’iy. Jesu ana bai’ufununayah ebigegewasimih|alt="Jesus talking to disciples on mountain" src="CN01881B.TIF" size="col" loc="Mrk 16.19" copy="©1978 David C. Cook Publishing Co." ref="16.19"
20 Các môn đệ đi khắp nơi trên thế giới rao truyền Tin Mừng cho mọi người và được Chúa trợ giúp. Chúa cũng làm vững lời giảng về Tin Mừng của họ bằng những phép lạ kèm theo.
20 Bai’ufununayah hitit hin, tafaram tutufin wanawanan Tur Gewasin sabuw isah hibinan. Naatu Regah wanawanahimaim bow tur gewasin hibibinan ina’inan fairih sisinafumaim hai bowabow na i turobe.
Atalhos do teclado
- Capítulo anterior←
- Próximo capítulo→
- Versículo anteriork
- Próximo versículoj
- Limpar seleçãoEsc
- Esta ajuda?
Estude este capítulo no WhatsApp
Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Marcos 16, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.