Marcos 14
Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI
1 Chỉ còn hai ngày nữa là đến lễ Vượt Qua và lễ Ăn Bánh Không Men. Các trưởng tế và giáo sư luật tìm mưu bắt giết Chúa Giê-xu.
1 Tar Nowaten naatu Faraw Wanawanan Yeast En ana hiyuw i veya rou’ab nahimaim bat. Naatu firis ukwarih, Ofafar bai’obaiyenayah i wa’iwa’iramaim ef hinuwet mi’itube Jesu hitab hita’asabun isan.
2 Nhưng họ bàn, “Chúng ta không nên làm việc ấy trong kỳ lễ vì dân chúng sẽ nổi loạn.”
2 Naatu hio, “Men hiyuw tanabowabow wanawanan tanasinafumih, anayabin rakit boro tanaku’ub.”
3 Chúa Giê-xu đang ở Bê-tha-ni dùng bữa trong nhà của Xi-môn là người trước kia mắc bệnh cùi, thì có một thiếu phụ đến cầm một chai nhỏ bằng ngọc đựng đầy dầu thơm nguyên chất rất đắt tiền. Chị đập ve dầu thơm ra đổ trên đầu Chúa Giê-xu.
3 Jesu in Bethany orot Simon biyan kokom ani’anin ana bar wanawanan run, ma bay eaau basit babin ta kibub kabayamaim hikwak raiy yamurin gewasin hisuwai batabat bai narun, iti raiy i ana baiyan gagamin, kibub sikan ana gigiwaiyomaim takakir Jesu aribun yan isuwai re.
4 Có vài người ở đó bất bình nói với nhau, “Tại sao phí dầu ấy như thế?
4 Sabuw afa nati’imaim hima’am hi’i’itin yah so’ar naatu taiyuwih hima higam hio, “Aisim iti raiy yamurin gewasin asir ebisuwai kwanikwaniy?
5 Dầu đó có thể bán được hơn ba trăm quan tiền để giúp người nghèo.” Họ chỉ trích chị.
5 Iti raiy i 300 denari tafanamaim auman boro hitatubun naatu kabay sabuw bai’akirayah hitibaisih!” Naatu babin hi’i’iyab higam hiu kwanikwaniy.
6 Chúa Giê-xu bảo, “Hãy để chị yên. Sao mấy ông quấy rầy chị? Chị đã làm một việc rất đáng khen cho ta.
6 Baise Jesu eo, “Babin kwaihamiy! Aisim kwaowa’awa’an? Sawar gewasin maiyow ayu isou sinaf.
7 Các ông luôn luôn có người nghèo ở gần mình nên lúc nào giúp họ cũng được cả chứ không có ta bên cạnh luôn đâu.
7 Kwa boro mar etei bai’akirayah bairi kwanama, veya afa baibaisih isan kwanakokok boro kwanibaisih. Baise ayu boro men mar etei bairit tanama’amih.
8 Chị đã làm điều chị có thể làm cho ta; chị đổ dầu thơm trên thân ta là chuẩn bị chôn cất ta đó.
8 Babin abistan sisinaf i karam ayu isou sinaf, raiy yamurin gewasin biyau imaim isuwai re’er i ayu yanowahu biyau eyayabunai ufibo hinayai.
9 Ta bảo thật, hễ nơi nào Tin Mừng nầy được rao giảng trên thế giới thì việc chị làm sẽ được thuật lại để nhớ đến chị.”
9 Anababatun a tur ao’owen, iti Tur Gewasin tafaram tutufin wanawanan hinao hinabibinan, iti babin abisa sisinaf sabuw boro isan hinao naatu hinanuh.”
10 Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, một trong mười hai môn đệ đến nói chuyện với các giới trưởng tế để đề nghị trao Chúa Giê-xu vào tay họ.
10 Imaibo Judas Iscariot Jesu ana bai’ufununayan orot ta nah 12 wanawanahimaim tit in firis ukwarih biyah tit saise ef tanuwet Jesu umahimaim tayai hitarab tamorob.
11 Các thầy tế lễ rất hài lòng về mưu của hắn và hứa trả tiền cho hắn. Cho nên hắn rình cơ hội tốt để phản bội Chúa Giê-xu.
11 Naatu abistanawat eo hinonowar hiyasisir men kafaita, naatu kabay baitinin isan hi’omatan. Judas misir ef ana gewasin nuwet imaim Jesu tab titih hita’asabun isan.
12 Hôm ấy là ngày đầu tiên của ngày lễ Bánh Không Men lúc chiên con của lễ Vượt Qua phải bị giết. Các môn đệ thưa với Ngài, “Thầy muốn chúng con đi chuẩn bị cho thầy ăn lễ Vượt Qua ở đâu?”
12 Faraw Wanawanan Yeast En ana hiyuw aa ana veya wantoro’ot ebubusuruf, nati’imaim Tar Nowaten ana hiyuw aa isan bobaituw sheep natunatuh wabih lamb imaim terouw tisisibor. Imih Jesu ana bai’ufununayah hibatiy, “O kukokok boro menamaim Tar Nowaten ana hiyuw ana bogaigiwas o isa?”
13 Chúa Giê-xu sai hai môn đệ đi và dặn, “Đi vào thành các con sẽ gặp một người mang bầu nước. Hãy đi theo.
13 Basit Jesu ana bai’ufununayah orot rou’ab eobaimanih eo, “Kwanan bar oto’otowen kwanatitit nati’imaim orot ta boro noukwatamaim harew nahun na’abar nan bairi kwanitar,
14 Khi người ấy vào nhà nào thì các con sẽ hỏi người chủ nhà, ‘Thầy hỏi: Cái phòng khách mà ta và các môn đệ sẽ ăn lễ Vượt Qua ở đâu?’
14 naatu kwani’ufunun bairi kwanan, bar menatan erur imaim kwanarun. Nati’imaim bar matuwan kwanau, ‘Bai’obaiyenayan ebibat bar awan menatan ayu au bai’ufnunayah bairi Tar Nowaten ana hiyuw anaa?’
15 Người ấy sẽ chỉ cho các con một phòng rộng trên gác có bàn ghế sẵn. Các con hãy dọn lễ Vượt Qua ở đó.”
15 Naatu bar tafantoro’ot awan ta gewasin hiyabun inu’in nabi’obaiyi imaim kwanabogaigiwas.”
16 Các môn đệ đi vào thành thì gặp y như điều Chúa Giê-xu đã nói trước. Họ liền dọn bữa ăn lễ Vượt Qua.
16 Bai’ufnunayah hitit hin bar oto’otowen hitit naatu Jesu iu’uwih na’atube sawar etei’imak hitita’uren, naatu Tar Nowaten ana hiyuw hibogaigiwas.
17 Đến chiều, Chúa Giê-xu cùng mười hai môn đệ vào nhà ấy.
17 Veya re birabirab Jesu ana bai’ufununayah 12 bairi hina
18 Đang khi ăn Chúa Giê-xu nói, “Ta bảo thật, một người trong các con sẽ phản ta—một trong những người hiện đang ăn ở đây với ta.”
18 hima bay hi’aa wanawanan Jesu misir eo, “Anababatun a tur ao’owen kwa wanawananamaim orot ta boro babau nao anamorob, nati orot i ayu airi efan ta’imon ama a’au.”
19 Nghe thế các môn đệ rất buồn rầu. Mỗi người lần lượt hỏi, “Thưa thầy người đó có phải là con không?”
19 Bai’ufununayah gubamih hurir himisir ta’ita’imon Jesu hibabatiyih, “O kunotanot ayu ai en?”
20 Chúa Giê-xu đáp, “Đó là một trong mười hai người—người sẽ chấm bánh chung chén với ta.
20 Jesu iyafutih eo, “Kwa na 12 wanawanamaim yait ana rafiy nab ayu airi tew yan anabubutu’ub orotoban nati.
21 Con Người sẽ phải chịu chết đúng theo lời Thánh Kinh viết về Ngài. Nhưng khốn cho kẻ nào phản bội Con Người để Ngài bị giết. Thà nó đừng sinh ra đời còn hơn.”
21 Orot Natun i boro namorob Bukamaim hikikirum na’atube, baise yait Orot Natun baban eo emomorob i boro bai’akir kakafin maiyow nab, gewasin nati orot iti tafaramaim men tatufuw.”
22 Lúc đang ăn, Chúa Giê-xu cầm bánh mì, tạ ơn Thượng Đế và bẻ ra. Rồi Ngài trao cho các môn đệ và nói, “Các con hãy dùng bánh nầy; đây là thân thể của ta.”
22 Bay hi’aa wanawanan Jesu rafiy bai merar yi yoyoban sawar imasib, ana bai’ufununayah itih eo, “Kwabai kwa’aan, iti i ayu biyou.”
23 Rồi Chúa Giê-xu cầm ly cảm tạ Thượng Đế và trao cho các môn đệ, ai nấy đều uống chung.
23 Naatu kerowas bai God ana merar yi sawar, ana bai’ufununayah itih etei’imak hitom.
24 Sau đó Chúa Giê-xu nói, “Đây là huyết của ta đổ ra để làm giao ước mới mà Thượng lập với dân Ngài.
24 Naatu iuwih eo “Iti i ayu au rara au Obaibasit Boubun kwa etei isa abisuwai.
25 Ta bảo thật, ta sẽ không uống nước nho nầy nữa cho đến khi ta uống nước nho mới trong Nước Trời.”
25 Anababatun a tur ao’owen, Ayu iti wine boro men anatom maiye, anama’am wine boubun Tamai ana aiwobomaimibo anatom.”
26 Sau khi hát một bản thánh ca, tất cả mọi người đi ra núi Ô-liu.
26 Naatu ew hitabor sawar himisir hitit hin Olive oyawemaim hitit.
27 Sau đó Chúa Giê-xu bảo các môn đệ “Các con sẽ vấp ngã trong niềm tin mình vì Thánh Kinh đã viết:
27 Jesu ana bai’ufununayah hai tur eowen eo, “Kwa etei’imak boro kwanabihir ayu kwanihamiyu, anayabin Bukamaim iti na’atube hikirum.”
28 Nhưng sau khi ta sống lại từ trong kẻ chết thì ta sẽ đi trước các con qua miền Ga-li-lê.”
28 Baise morobone ana mimisir ufunamaim ayu boro wan anan Galilee anatit.”
29 Phia-rơ thưa, “Dù cho ai vấp ngã trong đức tin chứ con thì chắc chắn là không.”
29 Peter iya’afut eo, “Au ofonah boro hinabihir, baise ayu boro men anihamiy ana bihiramih.”
30 Chúa Giê-xu đáp, “Ta bảo thật, đêm nay trước khi gà gáy hai lượt con sẽ chối ba lần, bảo là không hề biết ta.”
30 Jesu Peter isan eo, “Anababatun a tur ao’owen boun gugumin o mar tounu ayu inayayoubu ufunamaim kokorere boro mar rou’ab nao’o inanowar.”
31 Nhưng Phia-rơ cả quyết, “Con sẽ không bao giờ chối thầy! Cho dù con phải chết với thầy đi nữa con cũng sẽ không bao giờ chối thầy đâu!” Tất cả các môn đệ khác đều quả quyết y như vậy.
31 Peter fair raro’on rab eo, “Ayu boro men kafa’imo nati tur ana’omih, ayu o airit morobomih wabin abatun.” Naatu bai’ufununayah etei’imak tur ta’imon hio.
32 Chúa Giê-xu cùng các môn đệ đi đến một nơi gọi là Ghết-sê-ma-nê. Ngài bảo họ, “Ngồi đây đợi ta cầu nguyện.”
32 Naatu hina efan wabin Gethsemane imaim hitit, Jesu ana bai’ufununayah isah eo, “Iti’imaim kwanama ayu anan anayoyoban.”
33 Rồi Ngài mang Phia-rơ, Gia-cơ và Giăng đi với mình, lúc ấy lòng Ngài bắt đầu buồn rầu và bối rối lắm.
33 Peter, James, naatu John buwih bairi hin. Dogoron wanawanan busuruf yababan naatu biyababan ana bit tatam.
34 Ngài bảo họ, “Lòng ta buồn bã đến chết được. Các con hãy ở đây và tỉnh thức.”
34 Naatu ana bai’ufununayah nah tounu isah eo, “Dogorou wanawanan yababan i ra’at kwanekwan kafa’imo nimfufuru, imih iti’imaim kwamare naatu mata nanuw kwanama.”
35 Sau khi đi cách họ một khoảng, Ngài quì xuống cầu nguyện để, nếu có thể được, Ngài sẽ không phải trải qua giờ đau khổ nầy.
35 Jesu in kafa’imo yumatan aubabe me yan ra’iy naatu yoyoban saife ef tama’am na’at bai’akir ana veya tanan men tab.
36 Ngài cầu nguyện như sau, “A-ba, thưa Cha! Cha có thể làm mọi điều. Xin lấy ly đau khổ nầy khỏi con. Nhưng xin hãy làm theo ý muốn Cha chứ không phải theo ý muốn con.”
36 Jesu yoyoban eo, “Tamai, Taimaya! Sawar etei i hamehamen karam boro inasinaf iti biyababan ana kerowas biyau’umaim kubosair, men ayu au kok baise o a kok.”
37 Rồi Ngài trở lại với các môn đệ thì thấy họ đang ngủ. Ngài bảo Phia-rơ, “Xi-môn à, con ngủ sao? Con không thức nổi với ta trong một tiếng đồng hồ sao?
37 Naatu Jesu matabir maiye nan ana bai’ufununayah nah tounu hi’inu’in itih Peter isan eo, “Simon o mata fot ku’inu’in? Karam boro one hour ana fofonin mata hitanuw bairit tatama?”
38 Hãy tỉnh thức và cầu nguyện để khỏi rơi vào sự cám dỗ. Tinh thần thì muốn làm điều phải, nhưng thân thể thì mỏi mệt.”
38 Nah tounu isah eo, “Mata to’iwa’an kwayoyoban saise men routobon kwanab, ayub i ekokok baise biya i himorob.”
39 Một lần nữa, Chúa Giê-xu lại đi cầu nguyện giống như trước.
39 Jesu matabir maiye yoyobanamih in, tur ta’imonabanak eo yoyoban.
40 Khi trở về thì Ngài vẫn thấy họ ngủ vì mắt họ đừ quá rồi. Họ cũng chẳng biết nói làm sao với Ngài.
40 Naatu matabir maiye nan ana bai’ufununayah biyah tit matah koun bit sawar hi’inu’in itih, naatu Peter tur o isan kasiy awan bit.
41 Sau khi Chúa Giê-xu đi cầu nguyện lần thứ ba, Ngài trở lại với các môn đệ và bảo họ, “Các con vẫn còn ngủ nghỉ à? Thôi đủ rồi. Đến giờ Con Người sắp bị trao vào tay kẻ ác.
41 Jesu mar baitounin matabir maiye na ana bai’ufununayah biyah tit eo, “Kwa i boro’ika kwai’in kwabiyarir? Kwaiyariraka! Mata tenuw. Orot Natun i sabuw kakafih umahimaim hiyai hinab hinafatumimih.
42 Đứng dậy. Chúng ta phải đi. Kẻ phản ta đang đến kia kìa.”
42 Kwamisir tan, kwa’itin, orot yanuwayan i natitaka, nabuwu’umih.”
43 Ngay lúc Chúa Giê-xu còn đang nói thì Giu-đa, một trong mười hai sứ đồ ập đến. Cùng đi với hắn có nhiều người mang gươm giáo, gậy gộc. Họ được các giới trưởng tế, các giáo sư luật và các bô lão Do-thái phái đến.
43 Jesu ana tur eo sawara’e, bai’ufununayah nah 12 wanawanahimaim Judas yanuwayan, firis ukwarih, Ofafar bai’obaiyenayah naatu regaregah ai’in kou’ay gagamin kaiy kefat auman Judas nawiyih bairi hina hitit.
44 Giu-đa ra dấu trước cho chúng rằng, “Ai mà tôi hôn là người ấy. Hãy bắt lấy và giải đi thật cẩn thận.”
44 Yanuwayan i kou’ay eobaimanih, “Orot menatan ayu anab ana mamamay kwa a kok orotoban nati, kwanab kwanafatum naatu kwanakaif auman kwanan.”
45 Giu-đa tiến thẳng đến Chúa Giê-xu và nói, “Thưa thầy!” rồi hôn Ngài.
45 Basit hina hititit ana veya Judas mutufor in Jesu biyan tit eo, “Bai’obaiyenayan!” Naatu mamay.
46 Chúng liền ra tay bắt Chúa Giê-xu.
46 Naatu Jesu hibai hirab hifatum.
47 Một trong các môn đệ đang đứng đó rút gươm ra chém đứt vành tai tên đầy tớ của thầy tế lễ tối cao.
47 Baise orot ta nati’imaim batabat kaiy bai firis ukwarin ana akir wairafin tainin buru’um.
48 Chúa Giê-xu bảo họ, “Các anh dùng gươm giáo và gậy gộc đến bắt ta như thể ta là tên phạm pháp.
48 Jesu awan tara’ah kou’ay isah eo, “Kwa a kaiy, a kefat kwaiteten kwanan ayu fatumu’umih ana itinin ayu i bainowan orot na’atube.
49 Mỗi ngày ta giảng dạy trong đền thờ công khai mà các anh không dám bắt. Nhưng những việc nầy xảy ra để lời Thánh Kinh được thành tựu.”
49 Mar etei Tafaror Baremaim ama abibinan men imaim kwatafatumu? Baise abisa Bukamaim hi’o hikikirum i nan niturobe.”
50 Ngay lúc ấy tất cả các môn đệ đều bỏ Ngài chạy trốn hết.
50 Nati’imaim ana bai’ufununayah etei’imak hihamiy hibihir.
51 Có một cậu thanh niên đi theo Chúa Giê-xu, trên người chỉ có tấm khăn vải quấn ngang. Chúng túm bắt anh ta.
51 Orot boubun ta ana faifuw baban akisin ius Jesu bi’ufunun, hisinaftobon hitab hitafatumimih,
52 Nhưng anh bỏ tấm khăn quấn người lại, trần truồng bỏ chạy.
52 baise ana faifuwawat hibai i segar bihir.
53 Những người bắt Chúa Giê-xu giải Ngài đến nhà riêng của thầy tế lễ tối cao, nơi có đông đủ các giới trưởng tế, các bô lão Do-thái, cùng các giáo sư luật đang hội họp.
53 Firis Gagamin, orot ai’in, Ofafar bai’obaiyenayah, etei hiru’ay hima’am Jesu hibai hina firis ukwarih ana baremaim hirun.
54 Phia-rơ theo sau xa xa, rồi bước vào sân của nhà riêng thầy tế lễ tối cao. Ông lại ngồi chung với mấy người lính gác và sưởi ấm gần đống lửa.
54 Peter ef yokaika i’ufnunih bairi hina Firis Gagamin ana bar merar hitit imaim ma’utenayah wairaf hi’asir hima rararih i na bairi hima rarih.
55 Các giới trưởng tế cùng cả hội đồng Do-thái cố tìm bằng cớ để có thể giết Ngài, nhưng cả hội đồng không tìm được chứng cớ nào.
55 Firis ukwarih naatu kanisel ana kou’ay sabuw tutufin etei hisinaftobon baifuwen tur hibow hitit saise imaim Jesu hita’asabun isan, baise ana kakafin men ta hitita’urimih.
56 Có nhiều người đến vu cáo Ngài nhiều điều, nhưng những lời họ khai mâu thuẫn nhau.
56 Sifrubonayah moumurih maiyow Jesu isan hifufuwen, baise hai tur hio men Jesu sisinafumaim hi’o’omih.
57 Bấy giờ có một vài người đứng dậy đặt điều nói dối về Chúa Giê-xu. Họ bảo,
57 Naatu sabuw afa himisir Jesu isan baifuwen tur hibow hit hio.
58 “Chúng tôi nghe người nầy nói, ‘Ta sẽ phá sập đền thờ do tay người xây cất. Sau ba ngày, ta sẽ xây một đền thờ khác không nhờ tay người.’”
58 “Aki eo anowar, ‘Sabuw umahimaim Tafaror Bar hiwowowab ayu boro anataraboun nare naatu veya tounu ufunamaim boro ana wowab maiye, men sabuw umahimaim hiwowowab na’atube.’”
59 Nhưng ngay trong điều nầy, lời họ khai cũng không phù hợp với nhau.
59 Baise hai tur hio men ta sisinafumaim hi’o’omih.
60 Sau đó thầy tế lễ tối cao đứng trước mặt họ và hỏi Chúa Giê-xu, “Anh không trả lời gì hết à? Anh không trả lời những điều người ta tố cáo anh sao?”
60 Imaibo Firis Gagamin misir sabuw nahimaim bat Jesu ibatiy, “Orot hairi sif hirurubon inowar naatu boro hai tur wan inay ai en?”
61 Nhưng Chúa Giê-xu làm thinh, không trả lời tiếng nào.
61 Baise Jesu men kafa’imo tur ta eomih, Firis Gagamin ibanak ibatiy maiye, “O i Roubininayan God Baigegewasinayan Natun?”
62 Chúa Giê-xu đáp, “Phải, ta là Đấng Cứu Thế. Trong tương lai các ông sẽ thấy Con Người ngồi bên phải Thượng Đế, Đấng quyền uy và sẽ ngự đến giữa mây trời.”
62 Jesu iya’afut eo, “Ayu i Natun, naatu kwa etei boro Orot Natun God fairin uman asukwafune namare rofom wanawanan nanan kwana’itin!”
63 Nghe câu ấy, thầy tế lễ tối cao liền xé áo mình và tuyên bố, “Chúng ta đâu cần nhân chứng nữa!
63 Naatu Firis Gagamin iti tur nonowar ana faifuw bow seb naatu eo, “Aki men akokok sif rubonayah!
64 Các ông đã nghe hắn nói phạm thượng, nghịch với Thượng Đế rồi. Các ông nghĩ sao?”
64 Baigigimen tur eo kwanowar, mi’itube kwanotanot?” Etei’imak hio, “I bowabow kakafin sinaf naatu i boro namorob?”
65 Một số người ở đó phỉ nhổ Ngài. Họ bịt mắt Ngài lại, đấm Ngài mấy cái rồi bảo, “Hãy trổ tài nói tiên tri của ngươi đi! Rồi các lính hầu vừa giải Ngài đi vừa đánh đập Ngài.”
65 Sabuw afa Jesu yumatan hikwaitututur naatu matan faifuwamaim hisum hirab hio, “Kuo anowar yait o rabi?” Ma’utenayah auman rebareban hifafar.
66 Lúc Phia-rơ đang đứng trong sân, thì một đứa tớ gái của thầy tế lễ tối cao đến.
66 Peter ufun bar meraraka ma’am basit Firis Gagamin ana akirwairafin babitai na sisibinamaim tit,
67 Cô ta thấy Phia-rơ đang đứng sưởi gần đống lửa thì nhìn ông chăm chú.
67 Naatu Peter ma wairaf rarar babitai bat itin kikin naatu eo, “O auman Jesu airi Nazarethane kwana.”
68 Nhưng Phia-rơ chối phăng và bảo, “Tôi không hiểu cô nói gì.” Khi ông bỏ đi về phía cổng sân thì gà gáy.
68 Baise Peter youb, “Ayu men aso’ob o abitur ku’o.” Basit i bar merar ana etawan gagamin ufunane tit, naatu kokorere eo.
69 Đứa tớ gái thấy Phia-rơ đứng đó liền nói với mấy người đứng quanh lần nữa, “Ông nầy cũng là một trong những người thuộc bọn đó.”
69 Akir babitai Peter itin maiye, naatu nati’imaim sabuw hibatabat tur ta’imon hai tur eowen, “Iti orot i Jesu ana bai’ufununayan ta!”
70 Một lần nữa Phia-rơ lại chối.
70 Baise Peter ibanak youb maiye, hima kikimin sabuw bairi hibatabat Peter hiu, “Tur anababatun o i Jesu ana bai’ufununayan orot ta, anayabin o auman i Galilee orot.”
71 Phia-rơ liền thề rằng, “Tôi không hề biết người mà các ông nói đâu.”
71 Peter eobaifaro eo, “Anababatun a tur ao’owen, God baimakiy nitu ayu ana bifufuwen na’at, ayu nati orot men aso’ob!”
72 Lập tức gà gáy lần thứ nhì. Ông chợt nhớ lại lời Chúa Giê-xu đã bảo, “Trước khi gà gáy hai lượt, con sẽ chối ta ba lần, bảo là không biết ta.” Quá xúc động, Phia-rơ bật khóc.
72 Mar ta’imonamo kokorere mar bairou’abin eo, naatu imaibo Peter nuhin taseb Jesu mi’itube eo not, “Kokorere mar rou’ab nao ana veya o boro mar tounu ayu inayoubu.” Naatu Peter busuruf rerey.
Atalhos do teclado
- Capítulo anterior←
- Próximo capítulo→
- Versículo anteriork
- Próximo versículoj
- Limpar seleçãoEsc
- Esta ajuda?
Estude este capítulo no WhatsApp
Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Marcos 14, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.